Chương 1. Giới thiệu về hiđrotanxit Hiđrotanxit là khoáng vật có trong tự nhiên màu trắng và màu hạt trai, được xác định cùng họ với khoáng sét anion, có kích thước rất nhỏ được trộn lẫn với các khoáng khác gắn trên những phiến đá ở vùng đồi núi (Hình 1.1 Khoáng sét hiđrotanxit Khoáng sét anion tổng hợp đã được các nhà khoáng học (Aminoff và Broomi) công bố vào khoảng năm 30 của thế kỉ 20, với nhiều tên gọi khác như hiđrotanxit, pyđroauxit, takovite… [10]. Đến năm 1987 Drifs đã đề nghị một hệ thống danh pháp để thống nhất tên gọi. Những năm sau này, khái niệm “ Hiđroxit đan xen” (Lamellar Double Hydrocite – LDH) được dùng để mô tả sự hiện diện của hai cation kim loại khác nhau trong hợp chất này [1,6,13].
Năm 1996, ứng dụng những thành quả nghiên cứu về khoáng sét tự nhiên, người ta tổng hợp thành công hiđrotanxit công nghiệp từ các muối kim loại. Vì hiđrotanxit có thể trao đổi và hấp phụ ion nên được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực [6,13,26]. Hiện nay, hiđrotanxit có thể điều chế bằng nhiều 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu phương pháp khác nhau. Người ta vẫn tiếp tục phát triển, nghiên cứu và sản xuất hiđrotanxit chất lượng cao với giá thành rẻ hơn để khai thác các ứng dụng của nó, đặc biệt là ngành hóa học, dược liệu và môi trường [1,13,16].
Đặc điểm hiđrotanxit 1. Công thức Như đã trình bày sơ lược ở trên, hiđrotanxit (HT) là loại khoáng sét anion có tính bazơ, với công thức là Mg6Al2(OH)16CO3. Đối với hiđrotanxit tổng hợp, công thức tổng quát là [1,6,9,13,28,40]: [M2+1-x M3+x(OH)2]x+[An-x/n].mH2O, Trong đó: M2+ là kim loại hóa trị (II) như Mg, Fe, Zn, Ni, Ca. M3+ là kim loại hóa trị (III) như Al, Fe, Co, Cr.
An- là các anion (Cl-, SO42-, CO32-, CrO4-, NO3-.) x là tỉ số nguyên tử M3+/(M2+ + M3+), với giá trị x trong khoảng 0,2 ≤ x ≤ 0,33. Cấu tạo Hiđrotanxit có cấu tạo dạng lớp, bao gồm: Lớp hiđroxit: là hỗn hợp của các hiđroxit của kim loại hóa trị (II) và hóa trị (III), tại đỉnh là các nhóm OH–, tâm là các kim loại hóa trị (II) và (III), có cấu trúc tương tự như cấu trúc brucite trong tự nhiên [1,6,23]. Cấu trúc này được sắp đặt theo dạng M(OH)6 dạng bát diện (Hình 1. Lớp hiđroxit có dạng [MII1-xMIIIx(OH)2]x+ trong đó một phần kim loại hóa trị (II) được thay thế bằng kim loại hóa trị (III) hiđroxit mang điện tích dương và được bù bởi ion CO32- chèn giữa hai lớp.
Một lượng lớn các ion hóa trị hai, ba với tỷ lệ khác nhau có thể thay thế M2+ trong cấu trúc hiđrotanxit dẫn đến các dẫn xuất hiđrotanxit [5,21,40]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu Lớp xen giữa: [An-x/n].mH2O là các anion mang điện tích âm và các phân tử nước nằm xen giữa lớp hiđroxit trung hòa lớp điện tích dương.2 Cấu tạo hiđrotanxit 1. Đặc điểm Lớp xen giữa nằm giữa hai lớp hiđroxit cứ thế luân phiên xếp chồng lên nhau, làm cho hiđrotanxit có cấu trúc lớp (Hình 1. Lớp hiđroxit liên kết với lớp xen giữa bằng lực hút tĩnh điện.
Liên kết giữa các phân tử nước và các anion trong lớp xen giữa là liên kết hiđro. Các anion và các phân tử nước trong lớp xen giữa được phân bố một cách ngẫu nhiên và có thể di chuyển tự do không định hướng, các anion khác có thể thêm vào hoặc loại bỏ các anion trong lớp xen giữa mà không làm thay đổi tính chất của hiđrotanxit (Hình 1. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu Hình 1.3 Hình dạng lớp brucite (a) và cấu trúc lớp của hiđrotanxit (b) Không có giới hạn các loại anion trong lớp xen giữa, tuy nhiên khi tổng hợp hiđrotanxit dùng để hấp phụ người ta thường dùng anion cacbonat, còn khi tổng hợp hiđrotanxit dùng để trao đổi ion, thông thường lớp anion xen giữa là Cl-, Br-… Tùy thuộc vào bản chất của các cation, anion mà số lượng lớp xen giữa và kích thước hình thái của chúng thay đổi tạo nên vật liệu có những đặc tính riêng [13,26,37]. Khoảng cách giữa hai lớp hiđroxit L = 3 – 4 Å, được xác định bởi kích thước của các anion, giá trị L phụ thuộc vào: - Bán kính của anion: Anion có bán kính càng lớn thì khoảng cách lớp xen giữa L càng lớn (Hình 1.4 Giá trị L phụ thuộc vào bán kính anion - Cấu tạo không gian của anion.
Anion NO3- xen giữa lớp hiđroxit có cấu tạo không gian khác nhau nên L có các giá trị khác nhau (Hình 1. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu Hình 1.5 Giá trị L phụ thuộc vào dạng hình học của anion 1. Tính chất Khoảng không gian giữa các lớp hiđroxit chứa các anion và các phân tử nước sắp xếp một cách hỗn độn. Điều này đã tạo ra một số tính chất đặc trưng của các dạng hiđrotanxit [10,13].
Tính chất trao đổi anion Đây là một trong những tính chất quan trọng của hợp chất hiđroxi kép, dạng cấu trúc này có thể trao đổi một lượng lớn anion bên trong bằng những anion khác ở các trạng thái khác nhau [26,38]. Quá trình trao đổi anion có thể dẫn đến thay đổi giá trị của khoảng cách lớp trung gian giữa hai lớp hiđroxit kế cận. Sự thay đổi phụ thuộc vào hình dạng và điện tích của các anion trao đổi (Hình 1. Do cấu trúc lớp và sự đan xen anion, hiđrotanxit có độ phân tán và khả năng trao đổi anion cao [15,34].
Phản ứng trao đổi anion thường ở dạng cân bằng: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu [M2+M3+A] + A’ = [M2+M3+A’] + A A: anion ở lớp xen giữa A’: anion cần trao đổi hoặc viết dạng rút gọn: HT-A’ + A- = HT-AA’ HT-A: HT có 1 anion xen giữa A’ HT-AA’: HT có 2 anion xen giữa cùng tồn tại, lúc này quá trình trao đổi xảy ra không hoàn toàn, A không trao đổi hết với A’. Sự trao đổi thuận lợi với các anion có mật độ điện tích cao. Sự trao đổi anion trong hiđrotanxit phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Sự tương tác tĩnh điện của lớp hiđrotanxit tích điện dương với anion xen giữa và năng lượng tự do các anion cần trao đổi. - Ái lực trao đổi của lớp hiđroxit với các anion cần trao đổi trong dung dịch và ái lực của lớp hiđroxit với anion trong lớp xen giữa [8,13,35].
- Cấu tạo của ion cần trao đổi (A). - Hằng số cân bằng trao đổi tăng khi bán kính anion trao đổi giảm, trao đổi ion sẽ thuận lợi với các anion trong dung dịch có nồng độ cao. - Anion hóa trị II được ưu tiên hơn anion hóa trị I và thời gian trao đổi cũng nhanh hơn. - Sự trao đổi ion còn có sự ưu tiên đối với các ion có trong mạng lưới tinh thể vật liệu chất hấp phụ rắn hoặc có cấu tạo giống với một trong những ion tạo ra mạng lưới tính chất của chất hấp phụ, khi đó sự hấp phụ được xem là sự kết tinh.
- Khả năng trao đổi anion còn phụ thuộc vào pH của dung dịch chứa anion [13,21,38]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu Hình 1.6 Quá trình trao đổi anion 1. Tính chất hấp phụ Sự hấp phụ các anion có thể dẫn đến sự tái tạo lại cấu trúc lớp của hiđrotanxit sau khi xử lý hiđrotanxit ở nhiệt độ cao. Tính chất hấp phụ thể hiện rất tốt đối với HT/CO32-.
HT/CO32- sau khi nung ở nhiệt độ nhất định sẽ có khả năng hấp phụ tốt hơn lúc chưa nung. Khi đó HT/CO32- bị mất các phân tử nước lớp xen giữa và khí CO2 thoát ra để hình thành tâm bazơ O2- có cấu trúc kiểu M2+1- xM x(O)1+x/2. Hỗn hợp oxit này có khả năng tái tạo lại cấu trúc lớp khi tiếp xúc với 3+ dung dịch các anion khác [13,36,38]. Điển hình cho tính hấp phụ HT/CO 32- là hiđrotanxit được điều chế từ nhôm và magie có công thức cụ thể như sau: [Mg 1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].
Phương trình tái tạo cấu trúc lớp như sau: Mg 1-xAlx(O)1+x/2 + x/nAn- + (1+x/2)H 2O → [Mg1-xAlx(OH)2][Ax/n].mH2O với A là anion cần hấp phụ có thể là halogenua, hợp chất hữu cơ, anion vô cơ (CrO 42-, HPO42-, SiO32-, HVO42-, Cl-, MnO4-. Hiđrotanxit hấp phụ với các anion hình thành lớp xen giữa, hiđrotanxit không có khả năng trao đổi cation với Mg và Al ở các tấm bát diện do lực liên kết tạo phức lớn. Các hiđrotanxit hấp phụ trong môi trường nước nên chịu nhiều tác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Hóa dầu động của yếu tố ngoại cảnh như pH, các ion và hợp chất lạ. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ cũng giống như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trao đổi ion: nhiệt độ nung, tỉ lệ Mg/Al, pH … [21,34].
Các phương pháp điều chế hiđrotanxit Do hiđrotanxit có ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau nên có nhiều công trình nghiên cứu điều chế theo phương pháp khác nhau như: phương pháp muối – bazơ, phương pháp muối – oxit, phương pháp đồng kết tủa, phương pháp xây dựng lại cấu trúc… trong đó phương pháp đồng kết tủa tạo ra các tinh thể hiđrotanxit tốt nhất và có nhiều ưu điểm được sử dụng phổ biến [13,37]. Phương pháp muối – bazơ Năm 1992 Feikenecht và Geber lần đầu tiên tổng hợp hỗn hợp 2 hiđroxit [Mg – Al – CO3] bởi phản ứng hỗn hợp muối của hai kim loại trên với một dung dịch bazơ của một kim loại kiềm. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để điều chế hiđrotanxit cacbonat (HTC) của hai (hoặc lớn hơn) cation kim loại hóa trị II và kim loại hóa trị III. Phương pháp tổng hợp này dựa trên sự kết tủa đồng thời các hiđroxit của hai (hay nhiều hơn) cation kim loại hóa trị II và kim loại hóa trị III (phương pháp đồng kết tủa) [6,13].
Sau Feitkenecht và Geber phương pháp này được tiếp tục phát triển dựa trên sự thay đổi các thông số như: nồng độ các chất, điều kiện lọc, rửa và điều chỉnh pH. Đây chính là những yếu tố quyết định sự hình thành của hiđrotanxit cacbonat (HTC). Ưu điểm phương pháp muối – bazơ: Có thể điều chế được trực tiếp sản phẩm HTC có cấu tạo xác định; Sự đồng kết tủa trong dung dịch anion chọn lọc; Có thể điều chỉnh tỷ lệ giữa kim loại hóa trị II, kim loại hóa trị III thông qua tỷ lệ ion kim loại trong dung dịch ban đầu.