Luận văn: Vai trò hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (ERP) trong kinh doanh

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích hub vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của công nghệ thông, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

87
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Phát biểu vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.6. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

2.2. Lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT

2.3. Giá trị kinh doanh và quan điểm nền tảng nguồn lực

2.4. Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức và giá trị kinh doanh

2.5. Thành quả tổ chức của giá trị kinh doanh

2.6. Các nghiên cứu liên quan

2.7. Mô hình nghiên cứu

2.8. Giá trị kinh doanh của CNTT

2.9. Hệ thống ERP

2.10. Tích hợp hệ thống

2.11. Tích hợp quy trình

2.12. Thành quả tổ chức

2.13. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu sơ bộ

3.3. Nghiên cứu chính thức

3.4. Xây dựng thang đo và bộ câu hỏi

3.5. Kích thước mẫu

3.6. Đối tượng lấy mẫu

3.7. Phương pháp lấy mẫu

3.8. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Xử lý thang đo và mô hình

4.3. Nghiên cứu sơ bộ

4.4. Nghiên cứu chính thức

4.5. Phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha)

4.6. Phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập

4.7. Phân tích nhân tố khám phá của biến trung gian và biến phụ thuộc

4.8. Phân tích tương quan

4.9. Kiểm định mô hình và giả thuyết – Hồi quy đa biến

4.10. Thảo luận kết quả phân tích dữ liệu

4.11. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

5.1. Kết luận và đóng góp của đề tài nghiên cứu

5.2. Đóng góp của đề tài nghiên cứu

5.3. Hạn chế và nghiên cứu tiếp theo

5.4. Tóm tắt chương 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 4

Phụ lục 5

Phụ lục 6

Phụ lục 7

Phụ lục 8

Phụ lục 9

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (ERP) đã trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh hiện đại. Từ những năm 1990, ERP được coi là một trong những phát triển quan trọng nhất trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý tổ chức. Hệ thống này không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình mà còn nâng cao giá trị kinh doanh của tổ chức. Theo nghiên cứu của Davenport (1998), ERP hỗ trợ các tổ chức trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động và ra quyết định. Tuy nhiên, việc áp dụng ERP tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với chỉ khoảng 1,1% tổ chức sử dụng hệ thống này.

1.1. Khái niệm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là phần mềm tích hợp giúp quản lý các quy trình kinh doanh cốt lõi. Nó bao gồm các chức năng như quản lý sản xuất, tài chính, và nhân sự. Theo Gable (1998), ERP cung cấp một giải pháp toàn diện cho việc quản lý thông tin trong tổ chức.

1.2. Lợi ích của hệ thống ERP trong giá trị kinh doanh

Hệ thống ERP giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và giảm chi phí. Theo nghiên cứu của Brynjolfsson và cộng sự (2000), đầu tư vào ERP có thể dẫn đến tăng năng suất và giá trị kinh doanh. Điều này cho thấy tầm quan trọng của ERP trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của tổ chức.

II. Thách thức trong việc áp dụng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Mặc dù hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng nó cũng gặp phải nhiều thách thức. Các tổ chức thường phải đối mặt với khó khăn trong việc tích hợp hệ thống mới vào quy trình hiện tại. Theo Uwizeyemungu và Raymond (2012), một trong những thách thức lớn nhất là sự kháng cự từ nhân viên và thiếu hụt kỹ năng cần thiết để vận hành hệ thống.

2.1. Kháng cự từ nhân viên trong tổ chức

Nhiều nhân viên có thể cảm thấy lo ngại về việc thay đổi quy trình làm việc. Sự kháng cự này có thể dẫn đến việc triển khai hệ thống không hiệu quả. Để giảm thiểu vấn đề này, tổ chức cần có kế hoạch đào tạo và truyền thông rõ ràng.

2.2. Thiếu hụt kỹ năng và kiến thức

Việc thiếu hụt kỹ năng trong đội ngũ nhân viên có thể cản trở quá trình áp dụng ERP. Tổ chức cần đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên để đảm bảo họ có thể sử dụng hệ thống một cách hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Để nghiên cứu vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Các phương pháp này bao gồm khảo sát, phỏng vấn và phân tích dữ liệu. Theo McAfee (1999), việc sử dụng các phương pháp này giúp thu thập thông tin chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Khảo sát và phỏng vấn

Khảo sát và phỏng vấn là hai phương pháp chính để thu thập dữ liệu từ các tổ chức sử dụng ERP. Những thông tin này sẽ giúp hiểu rõ hơn về tác động của hệ thống đến giá trị kinh doanh.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Phân tích dữ liệu thu thập được sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa hệ thống ERP và giá trị kinh doanh. Các kết quả này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của việc áp dụng ERP trong tổ chức.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tổ chức lớn như SAP, Microsoft và Oracle đã phát triển các giải pháp ERP giúp cải thiện quy trình kinh doanh. Theo nghiên cứu của Gattiker và Goodhue (2005), việc áp dụng ERP đã giúp các tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện dịch vụ khách hàng.

4.1. Các lĩnh vực ứng dụng chính của ERP

Hệ thống ERP được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, bán lẻ và dịch vụ. Mỗi lĩnh vực có những yêu cầu và thách thức riêng, nhưng đều có thể hưởng lợi từ việc tối ưu hóa quy trình thông qua ERP.

4.2. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của ERP

Nghiên cứu cho thấy rằng các tổ chức áp dụng ERP thường có hiệu quả hoạt động cao hơn. Điều này được chứng minh qua việc giảm chi phí và tăng cường khả năng phục vụ khách hàng.

V. Kết luận và tương lai của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức

Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin. Tương lai của ERP sẽ tiếp tục phát triển với sự gia tăng của công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn. Theo dự báo, thị trường ERP sẽ tiếp tục mở rộng và mang lại nhiều cơ hội cho các tổ chức.

5.1. Tầm quan trọng của ERP trong tương lai

Hệ thống ERP sẽ tiếp tục là một công cụ quan trọng giúp các tổ chức tối ưu hóa quy trình và nâng cao giá trị kinh doanh. Sự phát triển của công nghệ sẽ tạo ra nhiều cơ hội mới cho việc áp dụng ERP.

5.2. Đề xuất cho các tổ chức Việt Nam

Các tổ chức Việt Nam cần nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của ERP và đầu tư vào việc áp dụng hệ thống này. Điều này sẽ giúp họ nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững trong tương lai.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ hub vai trò của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trong giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng cung cấp các thông tin về phạm vi, ý nghĩa nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 nêu lên các lý thuyết là cơ sở nền tảng cho nghiên cứu bao gồm các khái niệm về hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, giá trị kinh doanh của CNTT và quan điểm nền tảng nguồn lực, tích hợp hệ thống, tích hợp quy trình, thành quả tổ chức, tất cả sẽ được thể hiện rõ trong chương 2 cùng với mô hình nghiên cứu. Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Môi trường kinh doanh đang ngày một thay đổi đáng kể, ngày nay các tổ chức phải đối mặt với thách thức của sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, mở rộng thị trường và làm tăng sự kỳ vọng của khách hàng (Shankarnarayanan, 2000). Áp lực gia tăng khiến các tổ chức buộc phải giảm tổng chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng, giảm thời gian chuyển giao vật liệu, giảm đáng kể lượng hàng tồn kho, mở rộng lựa chọn sản phẩm, giao hàng chính xác và dịch vụ khách hàng tốt hơn, cải tiến chất lượng và phối hợp hiệu quả toàn bộ nhu cầu, cung ứng và sản xuất (Shankarnarayanan, 2000).

Hơn nữa, khi thế giới kinh doanh di chuyển gần hơn đến một mô hình hoàn toàn hợp tác và các đối thủ cạnh tranh nâng cấp khả năng của mình, để duy trì tính cạnh tranh, các tổ chức phải cải thiện thói quen và thủ tục kinh doanh của riêng họ. Các tổ chức cũng phải ngày càng chia sẻ với các nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng của họ những thông tin nội bộ quan trọng mà trước đây họ bảo vệ một cách tích cực (Loizos, 1998). Các chức năng trong tổ chức phải nâng cấp khả năng của mình để tạo ra và truyền đạt thông tin kịp thời và chính xác. Để hoàn thành các mục tiêu này, các tổ chức đang ngày càng chuyển sang các hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (Elisabeth và cộng sự, 2002).

Giống như nhiều lĩnh vực mới trong hệ thống thông tin, phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức, các từ đồng nghĩa là các gói phần mềm tiêu chuẩn tích hợp, hệ thống tổ chức, hệ thống tổ chức rộng, phần mềm tích hợp nhà cung cấp và hệ thống ứng dụng tổ chức (Gable, 1998), đã được xác định bởi các tác giả khác nhau nhưng không có nhiều điểm khác biệt. Nhà nghiên cứu Rosemann (1999) xác định 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức như một phần mềm ứng dụng tiêu chuẩn có thể tùy chỉnh bao gồm các giải pháp kinh doanh tích hợp cho các quy trình cốt lõi (ví dụ: lập kế hoạch sản xuất và kiểm soát, quản lý kho hàng) và các chức năng quản trị chính (ví dụ, kế toán, quản lý nguồn nhân lực) cho một tổ chức. Tuy nhiên, Gable (1998) lại coi đó là một giải pháp phần mềm trọn gói, tích hợp đầy đủ các quy trình và chức năng kinh doanh nhằm trình bày quan điểm tổng thể về tổ chức từ một thông tin và cấu trúc CNTT. Vì trọng tâm của các hệ thống sản xuất trong những năm 1960 là các khái niệm kiểm soát hàng tồn kho truyền thống, nhìn chung, hầu hết các gói phần mềm bị giới hạn đối với hàng tồn kho dựa trên các quy trình kiểm kê truyền thống (Gumaer, 1996).

Kể từ năm 1975, hệ thống MRP đã được mở rộng từ một công cụ MRP đơn giản để trở thành phần mềm hoạch định nguồn lực sản xuất chuẩn (MRPII) (Chung và Snyder, 1999). Tuy nhiên, những thiếu sót của MRPII trong việc quản lý đơn đặt hàng, kế hoạch sản xuất và hàng tồn kho của cơ sở sản xuất và sự cần thiết phải tích hợp các kỹ thuật mới này lại cùng nhau để phát triển một giải pháp tích hợp hơn được gọi là hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức (Chung và Snyder, 1999). Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức chủ yếu tích hợp dữ liệu hàng tồn kho với dữ liệu tài chính, bán hàng và nhân lực, cho phép các tổ chức định giá sản phẩm, lập báo cáo tài chính và quản lý hiệu quả nguồn lực của con người, vật liệu và tiền bạc (Markus và cộng sự, 2000). Sự xuất hiện của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức vào đầu những năm 1990 đã dẫn đến việc bao gồm các chức năng khác như quản lý kế toán và bán hàng (Gupta, 2000).

Trên thực tế, những người ủng hộ hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức tin rằng hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức có thể kết hợp cả quy trình kinh doanh trong tổ chức và CNTT thành một giải pháp tích hợp điều mà MRP và MRPII không thể cung cấp điều đó (Chung và Snyder, 1999). Một tính năng quan trọng của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đó là phương pháp đầu tiên kết hợp giữa quản lý kinh doanh và các khái niệm CNTT (Slooten và Yap, 1999). Sức mạnh của nó xuất phát từ khả năng cung cấp chức năng kinh doanh toàn diện theo cách tích hợp sử dụng cơ sở hạ tầng CNTT hiện đại (Waston và cộng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thật vậy, hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đã cải thiện thông tin tổ chức thông qua chuỗi cung ứng đến mức độ mà hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức đã trở thành một tiêu chuẩn cho hoạt động hiệu quả (Davenport, 1998).

Một đặc điểm đáng chú ý của phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức là các hoạt động cốt lõi của tổ chức như sản xuất, nhân sự, quản trị chuỗi cung ứng được tự động hóa và cải thiện đáng kể bằng cách kết hợp các phương pháp hay nhất để tạo điều kiện quản lý tốt hơn, đưa ra quyết định nhanh chóng và giảm một lượng lớn chi phí hoạt động kinh doanh (Holland and Light, 1999). Cấu trúc cơ bản của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được xây dựng dựa trên một cơ sở dữ liệu, một ứng dụng và một giao diện thống nhất trên toàn bộ tổ chức. Do đó, toàn bộ tổ chức có thể hoạt động theo một tiêu chuẩn ứng dụng, nơi tất cả các ứng dụng phục vụ nguồn nhân lực, kế toán, bán hàng, sản xuất, phân phối và các khía cạnh quản lý chuỗi cung ứng đều được tích hợp hoàn toàn. Phần mềm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức cũng có thể giúp tăng tốc độ ra quyết định, giảm chi phí và cung cấp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh phân tán trên toàn cầu (Gibson và cộng sự, 1999).

Cấu trúc của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức được trình bày chi tiết trong hình 2.1 Mô hình cấu trúc của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức Nguồn: Laudon và Laudon (2018) Cấu trúc của một hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức bao gồm các phân hệ sản xuất/sản phẩm, nguồn nhân lực, bán hàng/tiếp thị và tài chính/kế toán, các phân hệ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này hoạt động theo một quy trình kinh doanh trên toàn bộ tổ chức, các phân hệ tác động đến quy trình kinh doanh tạo nên sự thuận lợi trong việc vận hành quy trình. Các phân hệ nằm hoàn toàn trong ranh giới của tổ chức nhưng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau với bên ngoài là nhà cung cấp và khách hàng. Hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức cung cấp hai lợi ích chính mà các hệ thống phòng ban truyền thống không hề có đó là: (1) hoạt động kinh doanh thống nhất của tổ chức là bao gồm tất cả chức năng và bộ phận; (2) cơ sở dữ liệu tổ chức nơi tất cả các giao dịch kinh doanh được nhập, ghi lại, xử lý, theo dõi, và báo cáo. Việc thống nhất cơ sở dữ liệu và các hoạt động của tổ chức làm tăng thêm yêu cầu, sự mở rộng cho việc hợp tác và sắp xếp giữa các bộ phận khác nhau (Dillon, 1999).

Lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT Mặc dù được biết đến nhiều về hiệu quả chung của công nghệ thông tin về thành quả tổ chức nhưng có ít sự hiểu biết về giá trị của các ứng dụng công nghệ thông tin cụ thể và các yếu tố làm cho một dự án hoặc hệ thống cụ thể hiệu quả hơn (Lorin và cộng sự, 2002). Các nghiên cứu trước đây cho thấy tự động hóa CNTT về phân loại bưu chính và thu phí có ảnh hưởng đáng kể đến thành quả tổ chức (Mukhopadhyay và cộng sự, 1997). Các lợi ích cũng được tìm thấy trong nghiên cứu cấp độ nhà máy cho các máy móc tự động và "công nghệ sản xuất tiên tiến", hầu hết đều liên quan đến máy tính (Doms và cộng sự, 1997). Nhà nghiên cứu Brynjolfsson và cộng sự (2000) đã phát hiện ra rằng một số hoạt động tổ chức nhất định như việc tăng cường sử dụng lao động lành nghề, cơ cấu tổ chức phi tập trung và theo nhóm làm tăng giá trị của sự đầu tư CNTT.

Bằng dữ liệu khảo sát của mình, Brynjolfsson và cộng sự (2000) nhận thấy rằng các tổ chức đầu tư nhiều hơn vào thiết kế lại quy trình kinh doanh và dành nhiều nguồn lực CNTT hơn để tăng giá trị khách hàng (ví dụ: chất lượng, kịp thời, tiện lợi) có thành quả tổ chức cao hơn. Tất cả các nghiên cứu này cho thấy rằng có thể có lợi ích từ tự động hóa, thiết kế lại quy trình và tăng tính kịp thời hoặc chất lượng đầu ra liên quan đến triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức thành công mặc dù những hiệu ứng này trong bối cảnh cụ thể của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức ít được nghiên cứu tại Việt Nam trước đây. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giá trị kinh doanh và quan điểm nền tảng nguồn lực Quan điểm nền tảng nguồn lực (RBV) được sử dụng để xem xét tính hiệu quả và các lợi thế cạnh tranh của nguồn lực cụ thể trong tổ chức như văn hóa (Barney, 1991), công việc thường ngày của tổ chức.

Quan điểm này cũng phù hợp khi xem xét nguồn lực CNTT, nó là cơ sở vững chắc cho việc phân tích vấn đề liệu CNTT có thể liên kết với lợi thế cạnh tranh hay không và làm thế nào nó thực hiện được điều đó. Các nhà nghiên cứu chiến lược đã áp dụng quan điểm nền tảng nguồn lực để phân tích về mặt lý thuyết những lợi thế cạnh tranh của CNTT và đánh giá sự bổ sung giữa CNTT và các nguồn lực khác của tổ chức (Powell và Micallef, 1997).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ