đặt vấn đề giải thích pháp luật. Điều pháp luật cần làm chỉ là công bố và phổ biến văn bản pháp luật để mọi người dân biết và thực hiện. Tất cả các quan niệm trên đều “phiến diện, giản đơn một chiều, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị xã hội vốn có pháp luật”. Vì vậy, “đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò giá trị xã hội của pháp luật” và tất yếu làm cho hiệu lực và hiệu quả của pháp luật giảm sút do các quan niệm đó không tạo ra khả năng triển khai hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật.
Giáo dục là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều dạng, nhiều nhánh, nhiều hình thức, phương pháp và phương tiện khác nhau tác động lên ý thức con người. Giáo dục pháp luật là một dạng trong hệ thống giáo dục chung 10 đó. Tuy nhiên giáo dục pháp luật là một dạng giáo dục độc lập trong hệ thống giáo dục, bởi vì bên cạnh những đặc trưng chủ yếu trong một quá trình giáo dục, giáo dục pháp luật có những nét đặc trưng riêng biệt: Thứ nhất, giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình. Đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao góp phần tăng cường hiệu quả của pháp luật; Thứ hai, giáo dục pháp luật có nội dung riêng của mình.
Đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một quốc gia nói riêng về hai hiện tượng Nhà nước và pháp luật, trong đó pháp luật thực định của Nhà nước là bộ phận cơ bản quan trọng nhất; Thứ ba, giáo dục pháp luật có những nét đặc thù riêng về chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục. Từ những đặc thù nói trên của giáo dục pháp luật, cho phép chúng ta phân biệt phạm trù “giáo dục pháp luật” với phạm trù “hình thành ý thức pháp luật” của cá nhân, vốn là hai phạm trù quan hệ mật thiết nhưng không phải là đồng nhất. Hoạt động giáo dục pháp luật chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở cá nhân con người và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình ấy. Hoạt động giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan mang tính định hướng, có tổ chức, có chủ định, có mục tiêu xác định là hình thành và nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng được giáo dục phù hợp với yêu cầu của nền pháp chế XHCN.
“Hình thành ý thức pháp luật” có nội hàm rộng hơn giáo dục pháp luật. Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của cả điều kiện khách quan (thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, mà tác động trực tiếp là đời sống pháp luật của xã hội), lẫn sự tác động định hướng của nhân tố chủ quan giáo dục pháp luật. 11 Thực tế cho thấy, người có trình độ hiểu biết rộng, nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của pháp luật trong cuộc sống thì họ có đủ khả năng để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với quy định của pháp luật và thường họ không làm những điều pháp luật cấm. Nếu không xác định được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục pháp luật, không chú trọng đến công tác giáo dục pháp luật thì các hành vi phạm pháp, tiêu cực sẽ tăng do người có hành vi vi phạm pháp luật hạn chế hiểu biết về pháp luật, về vai trò của pháp luật trong cuộc sống.
Giáo dục pháp luật tác động lên nhận thức và trình độ hiểu biết, thái độ tình cảm, lòng tin vào pháp luật của công dân, là cơ sở hình thành ý thức pháp luật tốt, làm hạn chế sự phát triển của các hành vi vi phạm pháp luật. Tóm lại, qua những phân tích trên có thể kết luận: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của sự nghiệp giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành. Với khái niệm nêu trên, giáo dục pháp luật là một trong những mắt xích quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt của sự tăng cường pháp chế XHCN. Giáo dục pháp luật nhằm hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Hoạt động giáo dục pháp luật là trách nhiệm của các tổ chức Đảng, của các cơ quan ban, ngành, các tổ chức kinh tế, xã hội,. trong đó trách nhiệm trước hết phụ thuộc vào các cơ quan có chức năng giáo dục, đào tạo con người. Giáo dục pháp luật liên kết một cách hữu cơ và tương hỗ với các dạng giáo dục khác trong hệ thống giáo dục, trước hết 12 là các dạng giáo dục có cùng mục đích (giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức,.) tác động lên hành vi của con người, lên sự hợp lý, hợp pháp của hành vi trong mối quan hệ với xã hội. Thực tiễn chỉ ra rằng, hình thành được ý thức, thói quen thực hiện và tuân thủ pháp luật ở công dân là công việc không đơn giản.
Không tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật - hoạt động có tính định hướng, hệ thống thì sẽ không giải quyết được công việc đấy. Các dạng giáo dục khác - giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức - dù có sức mạnh tác động rất lớn cũng không thể thay thế được giáo dục pháp luật mà chỉ trong mối quan hệ biện chứng, gắn bó tác động qua lại, tương hỗ với nhau thì mới tạo được hiệu lực và hiệu quả của pháp luật. Như vậy cả cụm từ “phổ biến, giáo dục pháp luật” ở đây được hiểu là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật Mục đích xã hội của phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong của giáo dục pháp luật, là đặc trưng đầu tiên và quan trọng nhất để phân biệt nó với các dạng giáo dục khác.
Mục đích xã hội cần đạt được trong quá trình giáo dục pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu của xã hội, ở từng giai đoạn trong các điều kiện lịch sử cụ thể. Việc xác định đúng đắn mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật bởi vì các phạm trù nội dung, hình thức, phương pháp của phổ biến, giáo dục pháp luật phần lớn phụ thuộc vào việc xác định các mục đích xã hội đã được đặt ra trước quá trình giáo dục. Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật còn giúp cho việc xác định hiệu quả của phổ biến, giáo dục pháp luật. Kết quả đạt được 13 bao giờ cũng được đánh giá so với mục đích đề ra để xác định được chỉ số hiệu quả của công tác này.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt của mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật, vấn đề đặt ra là không thể coi nhẹ việc xác định mục đích xã hội của hoạt động này, cần xác định mục đích phù hợp với thực tiễn và đáp ứng được các nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ để góp phần nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật phải nhằm trang bị, cung cấp, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật, xuất phát từ đòi hỏi của các đối tượng giáo dục khác nhau, phù hợp với các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể; đồng thời phải nhằm hình thành lòng tin vào pháp luật của công dân xây dựng thói quen suy nghĩ và xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật ở công dân. Khi tiến hành tìm kiếm, xác định mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cần phân biệt giữa mục đích trước mắt và mục đích lâu dài; mục đích có tính tổng quát, chiến lược và mục đích giáo dục pháp luật cụ thể … Mục đích tổng quát, chiến lược của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm góp phần hình thành và nâng cao văn hoá pháp lý của từng cá nhân trong toàn xã hội. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, phổ biến, giáo dục pháp luật có các mục đích cụ thể như sau: - Thứ nhất, mục đích hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho công dân (gọi chung là mục đích nhận thức).
Mục đích nhận thức bao gồm tri thức về các quy phạm pháp luật, những quan niệm và cách đánh giá về mặt pháp lý các sự kiện xã hội. Đây được xem là mục đích hàng đầu vì sự am hiểu pháp luật, nhận thức đúng đắn về vai trò và giá trị xã hội của pháp luật là điều kiện cần thiết đảm bảo sự phát triển ý thức pháp luật, tư duy pháp lý và hình thành tình cảm, lòng tin, thái độ tích cực đối với pháp luật ở mọi công dân. Có tri thức pháp luật sẽ giúp cho 14 mỗi công dân có khả năng tự đánh giá, phê phán, đối chiếu hành vi của mình đối với các chuẩn mực pháp luật để từ đó tổ chức một cách ý thức các hành vi xử sự. Lê nin đã cho rằng: Sự am hiểu, trong đó có sự am hiểu pháp luật là điều kiện cần thiết, mà thiếu nó không nên nói về chính trị, người mù chữ thì đứng ngoài chính trị.
Hồ Chủ tịch, trong “Lời kêu gọi chống nạn thất học” tháng 10/1945 cũng đã từng nói: Mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.