Chương 1 – Tổng quan về đề tài nghiên cứu : Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2 – Tổng quan lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần của tổ chức KSNB, chất lượng thông tin KTTC của CTNY. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến. Trình bày các phương pháp lựa chọn mô hình và phân tích hồi quy.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: Chương này sẽ bắt đầu bằng việc đưa ra một số đặc điểm của công ty ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau đó trình bày và phân tích các số liệu thống kê mô tả của nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến và phân tích hồi quy và cuối cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. c 9 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Trong chương này tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến tổ chức kiểm soát nội bộ, các yếu tố cấu thành nên tổ chức KSNB, chất lượng thông tin KTTC của CTNY và sự ảnh hưởng của đến tổ chức kiểm soát nội bộ tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY.
Tổng quan về tổ chức kiểm soát. Kiểm soát thông tin. Kiểm soát trong quản lý : Quản lý luôn được nhìn nhận là hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quản lý được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Theo định nghĩa này thì quản lý là một quá trình tích cực, nó chăm lo đến các nguồn lực với mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả nhất có thể. Và quản lý được coi là một quá trình bao gồm các giai đoạn: Lập kế hoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành và kiểm soát. Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được, theo James H (2001) [39, tr52]. Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan.
Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những nguồn lực cần thiết – kể cả con người. Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi.
Do đó, các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn. Chức năng kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho những nhà c 10 quản lý. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một khâu độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội.
Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng. Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới chính là việc đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một tổ chức nhất định. Việc thực hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có đầy đủ thông tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này, vì vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn liền với quản lý.
Như vậy, kiểm soát được hiểu là kiểm tra, soát xét nhằm phát hiện những lệch lạc trong quá trình thực thi các quyết định quản lý so với các quy định, từ đó điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Trên cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu, và đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm soát là chức năng quan trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý”. Thông tin : Thông tin có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, thông tin gắn liền với quá trình điều khiển và cần được kiểm soát: Bản thân thông tin không có mục đích tự thân.
Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một hệ thống điều khiển nào đó – nơi phát thông tin. Thông tin được trao đổi từ hệ thống này sang hệ thống khác trong mối liên hệ với nhau. Việc kiểm soát nơi phát thông tin, quá trình trao đổi thông tin được thực hiện đảm bảo độ tin cậy của quá trình truyền tin. c 11 Thứ hai, thông tin có tính tương đối và cần được lượng hóa: Mỗi thông tin chỉ là một sự phản ánh chưa đầy đủ về hiện tượng vào sự vật được phản ánh, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ và khả năng của nơi phản ánh.
Để thông tin được phản ánh đầy đủ, việc tổ chức tốt nơi phản ánh thông tin là cần thiết. Việc đo lường thông tin giúp đánh giá sự phản ánh đầy đủ từ nơi phát thông tin. Thứ ba, tính định hướng của thông tin và kiểm soát thông tin: Thông tin phản ánh mối quan hệ giữa đối tượng được phản ánh và nơi nhận phản ánh. Thông tin được cung cấp cho những đối tượng cần thông tin.
Độ tin cậy của thông tin nhận được giúp đánh giá đúng bản chất của nơi phát thông tin. Với những thông tin có ảnh hưởng trên diện rộng, đối tượng nhận thông tin đa dạng, thông tin cần được kiểm soát từ nội bộ – nơi phát thông tin và từ bên ngoài – nơi nhận thông tin (như thông tin KTTC của một CTNY trên TTCK). Thứ tư, mỗi thông tin đều có vật mang tin và lượng tin: Nội dung tin bao giờ cũng phải có một vật mang tin nào đó. Trên một vật mang tin có thể có nhiều nội dung tin và thông tin thường thay đổi vật mang tin trong quá trình luân chuyển của mình.
Vật mang tin được xây dựng đảm bảo cung cấp đủ thông tin nhằm phản ánh đúng bản chất của nơi phát thông tin (như hệ thống BCTC thể hiện thông tin KTTC của một công ty). Thông tin kinh tế được xác định là những tín hiệu, được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích trong việc ra quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin. Thông tin kinh tế đáp ứng những đặc trưng của thông tin nói trên do đó thông tin kinh tế cần được kiểm soát, đo lường để đảm bảo độ tin cậy thông tin. Kiểm soát thông tin: Kiểm soát thông tin có một số đặc tính khác biệt như: Kiểm soát thông tin không tồn tại độc lập, không phải là một thể thống nhất hay cơ chế hoạt động.
Nó thể hiện mối liên hệ giữa hệ thống điều khiển (hay người sử dụng) với môi trường trong nội bộ hoặc bên ngoài. c 12 Kiểm soát thông tin không tồn tại cho đến khi nó thực sự được sử dụng. Kiểm soát thông tin mang tính thường xuyên đảm bảo tính chất thống nhất, kết nối giữa các thành phần thông tin. Thông tin được sử dụng và cần có sự kiểm soát nhằm đảm bảo minh bạch thông tin, tăng độ tin cậy thông tin.
Các thông tin sai lệch và không được kiểm soát sẽ làm ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin. Do đó, kiểm soát thông tin là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo thông tin không bị sai lệch, thông tin không bị bóp méo. Để kiểm soát thông tin cần thực hiện tổ chức kiếm soát thông tin phù hợp với đặc điểm của thông tin đó. Tổ chức kiểm soát thông tin.
Tổ chức theo nghĩa rộng phải bao hàm các mối liên hệ giữa các thành phần khác nhau trong hệ thống bao gồm cả nhân sự và công việc. Mục tiêu chung của tổ chức là tạo ra mối liên hệ tối ưu giữa các yếu tố của hệ thống, theo TS. Phạm Bính Ngọ (2011) [16,tr26-28]. Vậy tổ chức kiểm soát thông tin là cách thức liên hệ giữa các thành phần khác nhau trong một hệ thống cụ thể, kết hợp kiểm soát nội bộ và kiểm soát bên ngoài cùng hướng đến thông tin quản lý.
Tổng quan về tổ chức kiểm soát nội bộ: 2. Hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo COSO (2009), KSNB là một quá trình, được thực hiện bởi các nhà quản trị và nhân viên [31]. Quá trình này được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hiệu quả và hiệu lực hoạt động, độ tin cậy của BCTC, tuân thủ pháp luật và quy định. KSNB gồm các thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát.
Quan điểm này gắn với quan điểm phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp và từ phía nhà quản lý. Điều này phù hợp với những rủi ro xuất hiện nhiều hơn trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có sự hội nhập sâu và đa dạng. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.