MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam cũng liên tục điều chỉnh và từng bƣớc hoàn thiện, theo đó các quy định về kế toán dự phòng cũng ngày một phù hợp và hoàn chỉnh hơn. Sau khi ban hành Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 18 (ngày 18/12/2005), Bộ Tài Chính đã tiếp tục đƣa ra Thông tƣ số 13/2006TT- BTC (ngày 27/02/2006), tiếp theo đó là Thông tƣ 228/2009TT-BTC (ngày 07/12/2009) nhằm hƣớng dẫn chi tiết, đầy đủ vấn đề trích lập, ghi nhận và trình bày dự phòng trong kế toán Việt Nam. Trong môi trƣờng kinh doanh đa dạng và phức tạp nhƣ hiện nay, kế toán dự phòng sẽ là công cụ hỗ trợ lớn trong việc cung cấp cái nhìn đầy đủ và chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp cho nhà đầu tƣ.
Đồng thời, kế toán dự phòng cũng giúp doanh nghiệp dễ dàng nhìn nhận rủi ro, từ đó xây dựng các kế hoạch ngắn hay dài hạn để chủ động về tài chính. Tuy nhiên, với những lý do chủ quan và khách quan, vấn đề này dƣờng nhƣ chƣa đƣợc sự quan tâm đúng mức về phía các doanh nghiệp, do đó, ngƣời viết từ việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng tại Việt Nam” hy vọng sẽ khái quát đƣợc tình hình thực hiện kế toán dự phòng và đóng góp phần nào trong việc hoàn thiện các quy định về kế toán dự phòng tại Việt Nam, qua đó nâng cao chất lƣợng báo cáo tài chính. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Qua phân tích những nội dung của chuẩn mực quốc tế về kế toán dự phòng, cũng nhƣ tham khảo kinh nghiệm của các nƣớc phát triển đi trƣớc, từ đó so sánh với tình hình thực tế tại Việt Nam để đề ra những giải pháp nhằm khắc phục những nhƣợc điểm còn tồn tại và hoàn thiện hơn các các quy định về kế toán dự phòng tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề trong quy định về phƣơng pháp trích lập, hạch toán và trình bày dự phòng giảm giá trị tài sản và dự phòng nợ phải trả tại các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, không tìm hiểu về kế toán các đơn vị đặc thù nhƣ các đơn vị hành chính sự nghiệp, khối ngân hàng … Việc khảo sát đƣơc thực hiện tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp so sánh và đối chiếu - Phƣơng pháp phân tích định lƣợng - Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp. Cấu trúc của luận văn Luận văn “Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng tại Việt Nam” kết cấu gồm có 3 chƣơng, đƣợc trình bày cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về dự phòng và kế toán trích lập dự phòng.
(27 trang ) Chƣơng này hệ thống toàn diện cơ sở lý luận về kế toán dự phòng, đƣợc sàng lọc, sắp xếp và tổng hợp từ các chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành hiện nay. Ngoài ra chƣơng 1 còn đi vào tìm hiểu kế toán dự phòng tại một số quốc gia phát triển trên thế giới và trong khu vực, điển hình là Hoa Kỳ, Pháp. Từ đó nhìn nhận, đánh giá những điểm mạnh, điểm chƣa phù hợp với Việt Nam, phân tích và so sánh để rút ra bài học kinh nghiệm. Chƣơng 2: Thực trạng về kế toán các khoản dự phòng tại Việt Nam.
(28 trang) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 2 sẽ sơ lƣợc về lịch sử phát triển của kế toán Việt Nam theo từng giai đoạn, và đi vào cụ thể lịch sử phát triển của kế toán dự phòng tại Việt Nam. Trình bày cụ thể kế toán dự phòng đƣợc quy định trong luật kế toán Việt Nam, trong Chuẩn mực, Chế độ và các Thông tƣ liên quan. Tổng hợp, so sánh với kế toán dự phòng đã đƣợc quốc tế thực hiện. Trình bày kết quả từ việc khảo sát thực hiện thực tế tại 40 doanh nghiệp trong địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh, từ số liệu thu thập đƣợc để thống kê, phân tích từ đó khái quát toàn cảnh tình hình thực tiễn áp dụng kế toán dự phòng, đúc kết những thông tin hữu ích để đƣa ra kết luận. Tổng kết, nhận định những điểm mạnh, những điểm còn tồn tại để rút ra bài học kinh nghiệm và đƣa ra phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện kế toán dự phòng tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện các quy định về kế toán dự phòng tại Việt Nam. (24 trang) Đƣa ra quan điểm nền tảng trong vấn đề hoàn thiện các quy định về kế toán dự phòng.
Kế toán dự phòng tại Việt Nam phải phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu quốc tế hóa của Việt Nam, đồng thời phải đảm bảo ứng dụng một cách nhất quán, khoa học với điều kiện cụ thể tại Việt Nam. Nhìn nhận những thuận lợi và khó khăn có thể gặp phải trong quá trình xây dựng và ban hành chuẩn mực, vai trò của tổ chức lập quy, cơ quan quản lý thuế và hội nghề nghiệp trong thực tế. Trên quan điểm xây dựng, đề ra các giải pháp cụ thể về ngắn hạn cũng nhƣ dài hạn để góp phần hoàn thiện các quy định về kế toán dự phòng nói riêng và hệ thống kế toán Việt Nam nói chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ PHÒNG VÀ KẾ TOÁN DỰ PHÒNG.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ PHÒNG VÀ KẾ TOÁN DỰ PHÒNG.1 Khái niệm về dự phòng Khoản mục dự phòng đƣợc Hội Đồng Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB) xây dựng thành chuẩn mực quốc tế IAS 37 “Dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng” (Provisions, contigent liabilities and contigent assets), đƣợc ban hành năm 1998, áp dụng cho báo cáo tài chính bắt đầu từ ngày 01/07/1999, sau đó IASB điều chỉnh, sửa đổi vào năm 2001.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 37, dự phòng (provision) là một khoản nợ phải trả (liability) không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian1. Nhƣ vậy, xét về bản chất, dự phòng vừa mang tính ƣớc tính, vừa mang tính thời điểm. Trong đó, nợ phải trả (liability) là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ, mà việc thanh toán nghĩa vụ này đƣợc ƣớc tính dẫn đến việc suy giảm các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp. Một sự kiện ràng buộc (obligating event) là một sự kiện đƣợc xác lập bởi nghĩa vụ pháp lý (legal obligation) hay một nghĩa vụ liên đới (constructive obligation) khiến cho doanh nghiệp không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thực hiện nghĩa vụ đó.
Một nghĩa vụ pháp lý (legal obligation) là một nghĩa vụ phát sinh từ: - Một hợp đồng (đƣợc ký kết hay với các điều khoản ngầm định) - Theo quy định của pháp luật (pháp chế). - Các hoạt động khác theo luật pháp quy định. 1 IAS 37, đoạn 10 : provision is a liability of uncertain timing or amount TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Nghĩa vụ liên đới (constructive obligation) là một nghĩa vụ phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp bởi: - Các kiểu mẫu đã ban hành, các tập quán trong quá khứ, các chính sách đã công bố hay một công bố riêng biệt có hiệu lực hiện hành, từ đó doanh nghiệp chỉ ra cho các bên khác thấy rằng họ chấp nhận nghĩa vụ này, và - Kết quả là doanh nghiệp tạo lập đƣợc những kỳ vọng chắc chắn từ các bên khác rằng doanh nghiệp sẽ thực thi nghĩa vụ này.2 Quan hệ giữa dự phòng với rủi ro và các yếu tố không chắc chắn: Rủi ro hay các yếu tố không chắc chắn là những sự kiện hay tình huống không thể tránh khỏi tồn tại xoay quanh những hoạt động của doanh nghiệp mà từ đó sẽ hỗ trợ để đƣa ra một ƣớc đoán phù hợp nhất cho thông tin dự phòng. Khi xác định một rủi ro, ta phải xác định 3 yếu tố: - Xác suất xảy ra - Khả năng ảnh hƣởng đến đối tƣợng - Thời lƣợng ảnh hƣởng.
Có nghĩa là một sự kiện phát sinh trong quá khứ có thể tạo ra rủi ro cho đối tƣợng này nhƣng lại hoàn toàn không gây ảnh hƣởng đến đối tƣợng khác. Xác suất xảy ra cũng biến đổi theo từng giai đoạn, thời điểm cụ thể. Ví dụ việc ban hành quy định về luật bảo vệ môi trƣờng yêu cầu các đơn vị sản xuất bao bì không thân thiện với môi trƣờng phải đóng thuế. Năm 20x1, công ty A đang sản xuất các sản phẩm bao bì từ nhựa PE, thuộc nhóm các chất gây nguy cơ hủy hoại môi trƣờng, vậy công ty A có rủi ro phải nộp thuế.
Tuy nhiên, công ty B cũng sản xuất bao bì nhƣng từ các hợp chất đƣợc xác nhận thân thiện với môi trƣờng, vậy rủi ro của công ty A không phải là rủi ro của công ty B. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Đến năm 20x2, các sản phẩm bao bì của công ty A đƣợc xác nhận đạt tiêu chuẩn thân thiện với môi trƣờng, vậy lúc này công ty A không còn tồn tại rủi ro đóng thuế môi trƣờng nữa. Rủi ro mô tả những biến động trong dòng tiền ra của một doanh nghiệp, khi những yếu tố rủi ro thay đổi có khả năng làm phát sinh tăng khoản nợ phải trả ƣớc tính. Do vậy mà cần thiết phải thực hiện những xét đoán trong điều kiện không chắc chắn để từ đó tài sản tài sản và thu nhập không bị thổi phồng, nợ phải trả và chi phí không bị giấu bớt.
Kế toán dự phòng đƣợc xây dựng trên yêu cầu về tính thận trọng, nhằm đảm bảo chất lƣợng thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính. Do đó, công tác kế toán dự phòng chính là việc đo lƣờng, ghi nhận và trình bày các yếu tố rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong quá trình hoạt động kinh doanh.3 Phân biệt dự phòng với nợ phải trả và nợ tiềm tàng: Nợ phải trả và dự phòng đƣợc phân biệt bởi yếu tố không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Thông thƣờng, các khoản phải trả là các khoản đã xác định đƣợc chắc chắn cả về giá trị và thời gian, trong một số trƣờng hợp (nhƣ các khoản phải trả dồn tích (accrual)) cần phải ƣớc tính về giá trị hoặc thời gian, tuy nhiên, tính không chắc chắn thấp hơn nhiều so với dự phòng. Nợ tiềm tàng và dự phòng cũng đƣợc phân biệt dựa trên yếu tố không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian.