CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG 1. Khái niệm tiền lương 1. Quan niệm tiền lương ở các nước trên thế giới Tiền lương có thể có tên gọi khác nhau như thù lao, thu nhập từ lao động,.
Có nhiều quan điểm về tiền lương ở các nước trên thế giới, ví dụ: ở Pháp trả công được hiểu là tiền lương cơ bản mà người sử dụng lao động trả bằng tiền hay hiện vật cho người lao động theo việc làm của người lao động; Ở Đài Loan quan niệm cho rằng tiền lương có thể là tiền lương, tiền thưởng, hoặc các khoản phụ cấp khác có tính chất lương, gọi chung là khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc; để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm. Ở Nhật Bản thì quan niệm tiền lương là tiền lương, tiền thưởng, tiền được chưa lãi hoặc thù lao mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân (Trần Thị Kim Dung, 2009). Quan niệm tiền lương của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng (Tống Văn Lai, 2010). Quan niệm về tiền lương của Bộ luật Lao động Theo quy định của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt đảm bảo cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế (Bộ Luật Lao động, 2002). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Quan niệm chung về tiền lương trong nền kinh tế thị trường Ngày nay người ta đã đi đến thống nhất về khái niệm tiền lương, dù cách diễn đạt về khái niệm này có thể có những điểm khác nhau. Tiền lương là giá cả hàng hóa sức lao động, phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động và đảm bảo các quy định về tiền lương của pháp luật lao động, được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động. Ngoài ra, còn có khái niệm thù lao. Thù lao được chia thành thù lao trực tiếp (được trả trực tiếp bằng tiền) và thù lao gián tiếp (trả bằng các dịch vụ hay tiền thưởng).
Thù lao có thể là tài chính, phi tài chính hay những dịch vụ mà người lao động được hưởng trong quá trình làm thuê. Trong nghiên cứu tiền lương, còn có khái niệm thu nhập của người lao động. Khái niệm thu nhập rộng hơn khái niệm tiền lương, cơ cấu của nó bao gồm: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và các khoản thu nhập khác của người lao động do tham gia vào kết quả sản xuất kinh doanh hoặc các khoản thu nhập khác do họ tự đầu tư vốn tạo ra (ví dụ: lợi tức cổ phiếu,. Ngay khi cuộc sống của người lao động được cải thiện rõ rệt, trình độ văn hóa chuyên môn được nâng cao, người lao động đi làm không chỉ mong muốn có các yếu vật chất như: lương cơ bản, thưởng, trợ cấp, phúc lợi mà còn muốn được có những cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được giao thực hiện những công việc có tính chất thách thức, điều kiện làm việc, môi trường làm việc thú vị,.
Trên thế giới ngày ngay, ở một số nước công nghiệp phát triển đã quan niệm tiền lương ở nghĩa rộng hơn, bao hàm cả yếu tố vật chất lẫn các yếu tố tinh thần nhằm đem lại sự thỏa mãn cho người lao động tại nơi làm việc. Theo quan niệm mới này, trả lương, trả công cho người lao động có cơ cấu trình bày ở sơ đồ 1.1” (Trần Thị Kim Dung, 2009) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lương cơ bản Phụ cấp Thù lao vật chất Thưởng Phúc lợi Cơ cấu hệ thống trả công Cơ hội thăng tiến Thù lao Công việc thú vị phi vật chất Điều kiện làm việc Sơ đồ 1. Cơ cấu hệ thống trả công trong các doanh nghiệp Để nghiên cứu về hoạt động tổ chức tiền lương tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, luận văn sử dụng khái niệm mới về tiền lương ở nghĩa rộng hơn và đầy đủ hơn (khái niệm tiền lương bao gồm cả yếu tố vật chất lẫn các yếu tố tinh thần) của tác giả Trần Thị Kim Dung để làm cơ sở lý luận. Khái niệm, nội dung của tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm tổ chức tiền lương Tổ chức tiền lương (hay còn gọi là tổ chức trả công lao động) là hệ thống các biện pháp để phục vụ trả lương, trả công lao động. Căn cứ vào mức độ sử dụng lao động; phụ thuộc vào số lượng, chất lượng lao động, hoạt động tổ chức tiền lương nhằm bù đắp chi phí lao động và kết quả lao động (Nguyễn Tiệp, 2009). Nội dung của tổ chức tiền lương được phân biệt theo 2 cấp độ - Ở cấp độ vĩ mô, tổ chức tiền lương bao gồm việc thiết lập quan hệ tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương. - Ở cấp độ vi mô, tổ chức tiền lương được hiểu là hệ thống các biện pháp có liên quan trực tiếp đến việc hình thành và tạo nguồn để trả lương, phân phối quỹ tiền lương.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương 1. Những yêu cầu của tổ chức tiền lương Theo Nguyễn Tiệp (2009) hoạt động tổ chức tiền lương phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau: - Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Mức lương được trả không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định (áp dụng để trả những người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện và môi trường lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề).
Đối với những lao động lành nghề, lao động có trình độ chuyên môn - kỹ thuật, nghiệp vụ trả mức lương cao hơn. Yêu cầu này rất quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện chức năng và vai trò của tiền lương trong nền kinh tế và đời sống xã hội. - Tiền lương phải đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động. Mức lương mà người lao động không ngừng được nâng cao, do sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, do năng lực chuyên môn nghiệp vụ và tích luỹ kinh nghiệm tăng lên, tiền lương năm sau cao hơn năm trước, trên cơ sở đó nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn việc thoả mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần người lao động.
- Tiền lương được trả phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động được ghi trong hợp đồng lao động và kết quả lao động của người lao động. Địa điểm và thời gian trả tiền lương cho người lao động phải được quy định rõ. Chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm trả cho người lao động. Trong trường hợp chủ sử dụng lao động sử dụng cai thầu mà cai thầu không trả hoặc không trả đủ tiền lương cho người lao động, chủ sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả đủ lương cho người lao động.
Các trường hợp khấu trừ lương, lương trả chậm do luật pháp quy định; Trong trường hợp trả lương chậm, người sử dụng lao động phải đền bù. Tuyệt đối không được xử phạt kỷ luật lao động bằng cách trừ tiền lương. - Tiền lương phải được trả theo loại công việc, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương trả cho người lao động dựa trên kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao theo số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện và mối quan hệ với các yêu cầu khác như: văn hoá doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, môi trường đối doanh nghiệp.
- Tiền lương phải được phân biệt theo điều kiện lao động và cường độ lao động. Tiền 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lương được trả cho người lao động làm công việc có điều kiện lao động nặng nhọc - độc hại - nguy hiểm, làm đêm, làm thêm giờ phải cao hơn người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, đúng chế độ. Mức trả do doanh nghiệp quy định trong khuôn khổ quy định hiện hành của pháp luật lao động. - Tiền lương phải có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả lao động.
Sử dụng các đòn bẩy kích thích tăng năng suất lao động gắn liền với các tiêu chí chất lượng sản phẩm và hiệu quả lao động để trả lương cho người lao động. - Tiền lương trả cho người lao động có tuân thủ các quy định của pháp luật lao động. Mức lương được trả cho người lao động trong doanh nghiệp có thể dựa trên quy định trong hệ thống thang, bảng lương của Nhà nước hoặc theo thoả thuận ghi trong hợp đồng lao động. Hình thức trả lương do người sử dụng lao động lựa chọn và duy trì trong thời gian nhất định, phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất, tổ chức lao động và quản lý của từng doanh nghiệp, cơ quan.
Tiền lương phải đơn giản, dễ hiểu và dễ tính toán. Cách tính toán tiền lương phải trả cho người lao động phải thật sự đơn giản, dễ hiểu, dễ tính giúp người lao động dễ dàng tự tính toán được tiền lương của mình, đánh giá tiền lương đã được trả đúng, đủ với giá trị sức lao động bỏ ra. Người lao động biết được yếu tố nào tác động trực tiếp đến tăng, giảm tiền lương của mình, từ đó họ sẽ hoàn thiện động cơ và thái độ làm việc. Các nguyên tắc trong tổ chức tiền lương Theo Nguyễn Tiệp (2009) thì hoạt động tổ chức tiền lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Trả lương theo số lượng và chất lượng lao động: Nguyên tắc này bắt nguồn từ quy luật phân phối theo lao động.