CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực - Khái niệm nhân lực Theo Nguyễn Tiệp (2010), nhân lực là nguồn nhân lực trong mỗi con người, trong đó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bời khả năng làm việc, sức khỏe (sức bền của lực, độ lớn, cân nặng, chiều cao, …) trình độ (kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức), ý thức, tâm lý, sức sáng tạo, mức độ cố gắng và lòng đam mê, … Thể lực là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng con người, sức vóc, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ ăn uống, chế độ y tế. Thể lực của con người còn phụ thuộc vào thời gian công tác, tuổi tác, giới tính,… Trí lực là chỉ sự hiểu biết, suy nghĩ, sự tiếp thu kiến thức, tài năng quan điểm cũng như năng khiếu, lòng tin, nhân cách,… của từng con người. - Khái niệm nguồn nhân lực Theo Phạm Minh Hạc (2001) “Nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất)”.
Còn theo Phạm Văn Đức, 2008 thì “Nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động”. Theo Nguyễn Tiệp (2010), Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vũng lãnh thổ, địa 9 phương (tỉnh, thành phố,…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ,…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Từ những quan điểm trên, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu như là tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần được huy động trong quá trình lao động.2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2015), cho rằng các khái niệm về giáo dục, đào tạo phát triển đều đề cập đến quá trình như: quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức mới, các kỹ năng mới và thay đổi quan điểm và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân.
“Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình” (Lê Thanh Hà, 2009, 183). Sikula (1990), đào tạo nhân lực là việc làm tăng động lực làm việc của người lao động, nâng cao sự chủ động và sáng tạo của nhân viên giúp họ nhận thức rộng hơn, nâng cao năng lực tư duy ngăn ngừa sự lạc hậu khi có thay đổi về công nghệ. Ngoài ra còn giúp đáp ứng nhu cầu nhân sự của doanh nghiệp trong tương lai, thông qua đào tạo nguồn nhân lực nhằm đảm bảo tăng năng suất của người lao động, giúp người lao động cải thiện chất lượng công việc. Theo tác giả, từ những khái niệm và quan điển trên có thể hiểu đào tạo nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc, những hoạt động để nâng cao kỹ năng, tình độ của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có 10 hiệu quả hơn từ đó giúp tăng năng suất lao động và trực tiếp dẫn đến tăng năng suất hoạt động và lợi nhuận của doanh nghiệp.3 Khái niệm công tác đào tạo nguồn nhân lực Theo Lê Thanh Hà (2009), Công tác đào tạo nguồn nhân lực là một quá trình bao gồm việc xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng quy trình đào tạo, triển khai thực hiện đào tạo và đánh giá quá trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để các doanh ngiệp có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do dó, trong các doanh nghiệp, công tác đào tạo cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch.2 Vai trò của công tác đào tạo nguồn nhân lực Nhân lực là nền móng của mỗi doanh nghiệp, gắn với quá trình phát triển của doanh nghiệp. Do vậy việc xây dựng quy trình đào tạo là rất cần thiết: nhằm “Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thái độ lao động của người lao động, qua đó giúp tổ chức sử dụng tối đa có hiệu quả nguồn nhân lực hiện có nhằm thực hiện tốt các mục tiêu được đặt ra trong hiện tại cũng như tương lai của tổ chức.
Cụ thể hơn đào tạo là giúp người lao động hiểu rõ về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình để thực hiện tốt công việc được giao, làm việc tự giác hơn, có thái độ lao động tốt hơn và nâng cao khả năng thích ứng của họ đối với công việc trong tương lai” (Lê Thanh Hà, 2009, 186). Doanh nghiệp để bền vững cần đi theo một định hướng, một quy trình chặt chẽ và phù hợp. Bên cạnh chiến lược kinh doanh, chiến lược nhân sự nói chung và các chính sách đào tạo nói riêng được xem là mắt xích quan trọng tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp. 11 + Đối với tổ chức: Giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giúp giải quyết các vấn đề về tổ chức linh hoạt, hiệu quả và tránh tình trạng quản lý lỗi thời, giúp chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận.
+ Đối với người lao động: Nâng cao năng lực thực hiện công việc của người lao động. Từ đó giúp nâng cao năng suất lao động. Đáp ứng nhu cầu của người lao động về vật chất và tinh thần, tạo sự gắn bó giữa người lao động và tổ chức. Phát huy tính sáng tạo cho người lao động.
Giúp người lao động tạo được thương hiệu cá nhân. + Đối với xã hội: Đào tạo nhân lực góp phần nâng cao chất lượng lao động trong toàn xã hội. Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Nhân lực luôn là một yếu tố quan trọng trong mọi quá trình hình thành nên các giá trị của doanh nghiệp.
Nhà lãnh đạo cho rằng việc đào tạo nguồn nhân lực là ưu tiên hàng đầu của mọi doanh nghiệp. Do vậy, quy trình đào tạo nguồn nhân lực cần đầu tư chuyên sâu, song song với việc giúp nguồn nhân lực nâng cao chuyên môn làm việc, đây cũng là việc để doanh nghiệp có thể khai thác tối đa khối tài sản lớn nhất cảu chính mình, đáp ứng các yêu cầu về nhân lực trong tương lai. Để thực hiện được nghiệp vụ đào tạo, bồi dưỡng thì cần phải xây dựng quy trình đào tạo phù hợp, qua đó xác định từng bước theo đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp. Việc xây dựng quy trình đào tạo cần được xem xét kỹ lưỡng tránh những sai lầm mang đến những kết quả không mong muốn.
Quy trình đào tạo không đồng bộ, thiếu sự nhất quán dẫn đến khó kiểm soát và đánh giá kết quả đào tạo. Để khắc phục vấn đề này, doanh nghiệp cần có định hướng về nội dung và thời gian đào tạo rõ ràng, linh hoạt các vấn đề phát sinh để tránh bị phụ thuộc do các yếu tố bên ngoài dẫn đến thiếu nhất quán. 12 Quy trình đào tạo thiếu độc đáo, không tạo được hứng thú cho nhân viên. Điều này khiến doanh nghiệp tốn thời gian và chi phí đào tạo nhưng không đem lại giá trị hữu ích cho nhân viên tham gia đào tạo.
Giải pháp khắc phục là doanh nghiệp cần lắng nghe nhu cầu đào tạo của nhân viên từ đó xây dựng nội dung đào tạo thu hút. Linh hoạt các phương pháp đào tạo nhằm gia tăng hiệu quả đào tạo.3 Nội dung đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Cơ sở triển khai công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Hiện nay công tác đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề mà các doanh nghiệp đều quan tâm, các doanh nghiệp hiện nay đều đang nhận thức được đào tạo nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi để phát triển doanh nghiệp của mình. Công tác đào tạo nguồn nhân lực được triển khai trên cơ sở: - Bộ luật lao động ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2019 dành chương 4 từ điều 59 đến 62 quy định về học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề. - Luật Giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 01 tháng 07 năm 2015.
- Căn cứ vào chiến lược và yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định nhu cầu nhân lực cần dung cho doanh nghiệp để đảm bảo và phát triển tình hình kinh doanh. - Kết quả đánh giá nhân viên trong kỳ đánh giá: dựa vào bản mô tả công việc, bản đánh giá kết quả thực hiện công việc và doanh số đạt được.2 Phân định trách nhiệm các cấp, các bộ phận trong công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Trách nhiệm của lãnh đạo cấp cao: Trong doanh nghiệp lãnh đạo cấp cao có trách nhiệm định hướng cho công tác đào tạo nguồn nhân lực. Phối hợp với các bộ phận chức năng đưa ra kế hoạch sản xuất kinh doanh và mục 13 tiêu công ty trong từng giai đoạn, thời kì, từ đó phòng hành chính – phòng nhân sự sẽ lập kế hoạch đào tạo đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp. Bộ phận đào tạo sẽ trình lên các yêu cầu đào tạo, kế hoạch đào tạo, quyết định để lãnh đạo cấp cao ký và phê duyệt.
Trách nhiệm của lãnh đạo quản lý trực tiếp: Phối hợp vơi bộ phận đào tạo trong việc thực hiện các chính sách, công tác đào tạo. Quản lý trực tiếp nhân sự thuộc phạm vi quản lý của mình để xác định nhu cầu nhân sự để bổ sung, thay thế hoàn thiện cơ cấu phòng ban. Xác định nhu cầu đào tạo của bộ phận mình quản lý, cùng bộ phận đào tạo phân tích nhu cầu thực tế cần đào tạo.