phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận chung về BHXH và công tác thu BHXH bắt buộc. Thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Bảo hiểm xã hội huyện Krông Nô, giai đoạn 2009 - 2013. Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Bảo hiểm xã hội huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. “Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020”. Nguyễn Huy Ban (1996) là một đề tài nghiên Luan van 4 cứu khoa học cấp bộ đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển BHXH, việc thực hiện BHXH ở một số nƣớc trên thế giới và thực trạng chính sách BHXH ở Việt Nam [5]. “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH Việt Nam”.
“Thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2007 - 2010 ”. Tác giả Nguyễn Thị Hiếu (2010) là một luận văn thạc sĩ. Thông qua việc nghiên cứu thực trạng công tác thu tại BHXH huyện Hiệp Hòa để thấy đƣợc những mặt đã đạt đƣợc, những mặt chƣa đạt đƣợc, từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH bắt buộc tại đơn vị [14]. “Đánh giá thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bình Dương”.
Tác giả Nguyễn Thành Công (2007) là một luận văn thạc sĩ. Đề tài đã hệ thống hóa khá đầy đủ và chi tiết về cơ sở lý luận BHXH, tuy nhiên đề tài mới chỉ ra đƣợc một phần thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bình Dƣơng và các đề xuất một số giải pháp, còn chung chung chƣa cụ thể [7]. “Công tác thu BHXH bắt buộc của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại BHXH quận Ba Đình. Thực trạng và giải pháp”.
Tác giả Ngô Thị Minh Chi (2010) là một luận văn thạc sĩ. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thu BHXH bắt buộc của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại BHXH quận Ba Đình, tác giả đã đi sâu phân tích một cách cụ thể và chi tiết tình hình thu BHXH bắt buộc đối tƣợng là DNNQD tuy nhiên hệ thống giải pháp còn chƣa thực sự gắn với tình hình cụ thể của địa bàn nghiên cứu [8]. “Quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010 - 2012”. Tác giả Nguyễn Văn Trƣờng (2012) là một luận văn thạc sĩ.
Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động của BHXH, đánh giá khá đầy đủ thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Đăk Nông giai Luan van 5 đoạn 2010 - 2012, đánh giá nguyên nhân, vƣớng mắc, tồn tại trong công tác thu. Đƣa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Đăk Nông trong thời gian tới [9]. ý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”. Nguyễn Văn Châu (1996) là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ đã nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nƣớc trên thế giới, tổng kết đánh giá thực tiễn hoạt động thu BHXH giai đoạn trƣớc 1995 và những năm đầu khi BHXH Việt Nam mới thành lập và đi vào hoạt động từ 1995 - 1996.
Tác giả đã đƣa ra một số khuyến nghị để đổi mới nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH ở Việt Nam [6]. Bài viết "Những giải pháp trong công tác thu BHXH, BHYT bắt buộc". Tác giả Minh Hòa (2010) trên trang http://www.vn đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao công tác thu BHXH, BHYT bắt buộc trong đó tập trung vào: Công tác khảo sát thực hiện chính sách lao động, BHXH và tăng cƣờng công tác kiểm tra đối chiếu thu tại đơn vị, công tác thông tin, tuyên truyền và việc cập nhật thông tin phải phân tích cụ thể từng nguyên nhân, phải cùng đơn vị tháo gỡ những khó khăn. Bài viết: "Tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với công tác BHXH, BHYT".
Tác giả Quang Hùng (2014) trên trang http://bhxhquangngai. Đã đề cập đến việc cần phải tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra kết hợp với triển khai đồng bộ các biện pháp thu nợ đọng là việc làm thƣờng xuyên của ngành BHXH tỉnh Quảng Ngãi [26]. Bài viết: "Tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH trong các loại hình doanh nghiệp". Đăng Kiên (2013) trên trang http://bhxhbinhthuan.
Qua việc giám sát nhằm phát hiện những vấn đề bất cập, chƣa hợp lý trong chính sách và cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện chính sách BHXH bắt buộc, kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi Luật BHXH và các quy định pháp luật khác có liên quan [47]. Luan van 6 Bài viết: "Những điểm mới về chế độ BHXH bắt buộc của người lao động". Đỗ Ngân Bình (2007) trên trang http:// www.vn đã chỉ ra điểm tiến bộ hơn so với các văn bản trƣớc đó nhƣ: i) Quy định một cách tƣơng đối thống nhất các chế độ BHXH bắt buộc đối với ngƣời lao động; ii) Từng bƣớc điều chỉnh mức đóng và hƣởng BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo cân đối thu- chi BHXH; iii) Điều chỉnh việc chi trả BHXH bắt buộc; iv) Mở rộng dần các đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc cũng nhƣ tăng các chế độ BHXH đối với ngƣời lao động [46]. Các đề tài trên đã đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động của BHXH và có những liên quan nhất định đến công tác thu và quản lý thu BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng.
Hiện tại vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu có hệ thống đến công tác thu BHXH trên địa bàn huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông. Vì vậy đề tài nghiên cứu của tác giả là không trùng lặp với các nghiên cứu trƣớc đây. Đề tài xem xét kế thừa và bổ sung cho nghiên cứu của mình nhằm cụ thể hóa và đánh giá một cách toàn diện về công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở BHXH huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông. Luan van 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÔNG TÁC THU BHXH BẮT BUỘC 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội. Khái niệm chung của ILO về ASXH cũng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực BHXH. Theo đó, BHXH có thể đƣợc hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Tuy nhiên, ở Việt Nam thuật ngữ BHXH thƣờng đƣợc sử dụng với nội hàm hẹp hơn, chỉ bao gồm những trƣờng hợp bảo hiểm thu nhập cho NLĐ. “ Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết., trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội. Ở góc độ tài chính, BHXH đƣợc định nghĩa: là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của Nhà nƣớc, để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trƣờng hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. Ở góc độ kiến thức bách khoa, BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Luan van 8 BHXH có sự bảo hộ của Nhà nƣớc theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Ở góc độ pháp luật, BHXH là một chế độ pháp lí quy định đối tƣợng, điều kiện, mức độ đảm bảo vật chất và các dịch vụ cần thiết để bảo vệ NLĐ và gia đình họ trong các trƣờng hợp bảo hiểm đƣợc Nhà nƣớc xác định. Căn cứ vào mục đích xã hội của bảo hiểm thì BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập và cung cấp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế thiết yếu cho NLĐ và một số thành viên gia đình họ trong các trƣờng hợp ốm đau, thai sản, tai nạn nghề nghiệp, tàn tật, hƣu trí, tử tuất, thất nghiệp. trên cơ sở đóng quỹ của ngƣời tham gia, góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội. Khái niệm này nhằm xác định tính xã hội, tính phi lợi nhuận của hình thức BHXH, có thể coi là khái niệm BHXH theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, cũng là nghĩa thông dụng ở nƣớc ta, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội. Các khái niệm trên, tuy xuất phát ở những góc độ khác nhau nhƣng đều xem xét BHXH, trƣớc hết là một hình thức bảo hiểm nhƣng mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có sự bảo hộ của Nhà nƣớc, chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho NLĐ và an toàn xã hội [14]. Quá trình ra đời của BHXH * Giai đoạn trước năm 1945: - Trƣớc năm 1945 ở Việt Nam chƣa có pháp luật bảo hiểm xã hội.
Bởi vì đất nƣớc bị thực dân Pháp đô hộ. Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nghèo đói. - Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cƣu mang, giúp đỡ lẫn nhau những khi gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng Luan van 9 xã thân tộc.
Cũng có một số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai). * Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954: - Tháng 8 năm 1945 Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.