Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI CƠ SỞ 1. XUNG ĐỘT XÃ HỘI VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT XÃ HỘI BẰNG HÒA GIẢI 1. Xung đột xã hội và phương thức giải quyết xung đột xã hội Trong xã hội luôn luôn tồn tại những mặt đối lập và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, đó là động lực của sự phát triển. Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội, gắn kết với nhau bởi những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, nhiều chiều cạnh.
Bên cạnh xu hướng đồng thuận trong xã hội, xung đột xã hội là một xu hướng khác, diễn ra theo chiều "âm bản", là một trong trong những hệ quả của sự đa dạng phức tạp đó. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về xung đột xã hội. Có quan điểm cho rằng: xung đột xã hội là sự mâu thuẫn căng thẳng nhất thể hiện sự xung khắc giữa các cộng đồng xã hội khác nhau - các giai cấp, các quốc gia, các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội,… do sự đối lập hoặc sự khác biệt đáng kể về lợi ích, mục đích, khuynh hướng phát triển của chúng quyết định. Xung đột xã hội nảy sinh và giải quyết trong tình huống xã hội cụ thể do xuất hiện vấn đề xã hội đòi hỏi phải được giải quyết.
Xung đột xã hội có các nguyên nhân, những người đại diện của mình (các giai cấp, các nhóm xã hội,…), có các chức năng, độ dài và mức độ căng thẳng nhất định. Quan điểm khác lại cho rằng, xung đột xã hội là tình trạng mâu thuẫn hoặc ngấm ngầm của các cấu thành xã hội có sự đối lập khách quan về các lợi ích, các mục đích và các khuynh hướng phát triển vốn không phù hợp với nhau, là sự đụng độ trực tiếp hay gián tiếp giữa các lực lượng xã hội trên cơ sở phản kháng hay ủng hộ trật tự xã hội hiện tồn, là hình thức đặc biệt về mặt lịch sử của sự thống nhất mới về mặt xã hội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xung đột xã hội, theo quan điểm khác - đó là tình huống khi các bên tác động lẫn nhau, theo đuổi những mục đích nào đó của mình mà những mục đích đó đối lập hoặc loại trừ nhau. Những khái niệm trên nhìn chung là phù hợp nhưng rộng và trừu tượng.
Trong những khái niệm đó không có chỗ cho những xung đột xã hội "có quy mô hẹp hơn" chẳng hạn như các xung đột xã hội trong đời sống hàng ngày, các xung đột trong lao động, sản xuất, kinh doanh… Trong khi đó những hiện tượng xung đột này không thể không nói đến. Như vậy, xung đột xã hội là sự biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữa những người đại diện (các bên) của chúng. Trong xã hội, những lực lượng đó là những chủ thể của xã hội: những con người cụ thể như các cá thể (cá nhân), các nhóm, các tầng lớp xã hội, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… Khi những xung đột xã hội diễn ra dưới dạng các mâu thuẫn, tranh chấp, cần có phương thức điều hòa, giải quyết để xã hội trở lại một trật tự nhất định. Về nguyên lý, cơ chế giải quyết xung đột xã hội có thể được phân thành hai loại: a) cơ chế tự giải quyết xung đột xã hội (việc giải quyết xung đột do chính các bên xung đột thực hiện); b) cơ chế giải quyết xung đột xã hội có sự can thiệp của bên thứ ba.
Hòa giải là một trong những phương thức có hiệu quả để giải quyết các xung đột đó. Thực tế cho thấy, không thể tránh được mọi xung đột xã hội, nhưng yêu cầu quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội đặt ra là phải tránh được những thiệt hại mà các sự kiện xung đột xã hội có thể mang lại do không được kiểm soát. Có nhiều cách tiếp cập giải quyết xung đột xã hội bằng con đường hòa giải, trong số đó có những cách tiếp cận sau: - Cách tiếp cận giải quyết xung đột căn cứ vào các quy định pháp luật. Theo cách tiếp cận này, trong xã hội cần phải có các cơ chế tiến hành các 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc tư vấn, các cuộc thương lượng tìm kiếm các quyết định có lợi cho tất cả các bên xung đột, tranh chấp, trong đó có các cơ chế hoạt động trong khuôn khổ của quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Cách tiếp cận giải quyết xung đột bằng sự đồng thuận. Theo cách tiếp cận này, khi có sự bất đồng giữa các bên xung đột về một vấn đề nào đó, xung đột cần được giải quyết theo sự chấp nhận của các bên. Các xung đột ở mức độ cao hay thấp đều có thể điều chỉnh và giải quyết được một khi cả hai bên xung đột đều có hệ thống các giá trị chung. Việc tìm kiếm một quyết định mà cả hai bên xung đột đều chấp nhận được có khả năng trở thành hiện thực trên thực tế.
- Cách tiếp cận tâm lý. Có rất nhiều điều phụ thuộc vào những đặc điểm nhân thân của những người tham gia vào việc đưa ra một quyết định trong thời gian xảy ra xung đột. Đối với các chủ thể của cuộc xung đột, nếu nhận thức được việc mình thực hiện là không có triển vọng hoặc thiếu kinh nghiệm (thiếu hiểu biết), họ điều chỉnh hành vi của mình chủ yếu theo hướng làm giảm sự căng thẳng xã hội do tình huống xung đột gây ra. Triết lý hòa giải trong giải quyết tranh chấp, xích mích Hiện nay ở Việt Nam có nhiều hình thức hòa giải khác nhau: hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại Tòa án, hòa giải lao động, hòa giải thương mại, kể cả thỏa thuận trong tố tụng hành chính và tố tụng hình sự cũng được coi là một biểu hiện của hòa giải.
Những cơ sở lịch sử - nhận thức của hòa giải ở Việt Nam có thể phân tích dưới các biểu hiện sau: Thứ nhất: Xét từ góc độ lịch sử - truyền thống và tâm lý xã hội, đối với Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hòa giải là một hiện tượng văn hóa. Theo Hồ Chí Minh: "Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [37, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lịch sử cho thấy xã hội cổ truyền Việt Nam được mở rộng theo công thức Nhà - Làng - Nước. Làng là đơn vị cơ sở cấu thành nên quốc gia, mang tính khép kín, tự quản rất cao.
Trong một cộng đồng làng xã khép kín, "phép vua thua lệ làng", người Việt xưa có thói quen ứng xử theo đạo đức, phong tục tập quán hơn là theo pháp luật. Cách sống duy tình hơn duy lý đã làm cho họ rất ngại kiện tụng, coi việc phải đến chốn công đường là một điều bất đắc dĩ. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, người ta thường dĩ hòa vi quý, hòa giải được xem là phương án tối ưu. Nước có thời mất nhưng làng xã và truyền thống làng xã, trong đó có truyền thống hòa giải không bao giờ mất.
Đó là tiền đề lịch sử rất quan trong của việc tồn tại ý thức hòa giải trong tâm lý người Việt. Thứ hai: Hòa giải "là một nhu cầu của xã hội tự quản, hay nói đúng hơn là nhu cầu của xã hội dân sự, hòa giải dễ được chấp nhận vì không có người thắng người thua" [38], nếu có "thua thiệt" thì cũng là thua ít nhất, nhưng lại chính là thắng nhiều nhất. Hòa giải giúp cho việc giải quyết các tranh chấp, xích mích, vi phạm pháp luật vừa tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội. Mác đã từng nói: Nếu xem xét mức độ phát triển nhất định của sản xuất, trao đổi và phân phối, các anh sẽ thấy một chế độ xã hội nhất định, một tổ chức nhất định của gia đình, các tầng lớp, giai cấp, một xã hội dân sự.
Điều đó hoàn toàn phù hợp với định chế hòa giải. Theo những quan niệm chung nhất, thì xã hội dân sự bao gồm những yếu tố cơ bản sau đây: a) Đó là tập hợp những cơ cấu tách khỏi phạm vi các thiết chế nhà nước. Nó bao gồm rất nhiều các hội, các đoàn thể được hình thành trên cơ sở tự nguyện của công dân; b) Đó là lĩnh vực thể hiện các lợi ích của xã hội nằm ngoài phạm vi tác động trực tiếp của nhà nước; (quan hệ gia đình, đạo đức, văn hóa tinh thần, thông tin không mang tính chất chính trị). c) Đó là tập hợp tất cả những người có quan hệ nhất định với nhau theo sự tự do thỏa thuận mà không có sự can thiệp của nhà nước.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xã hội dân sự đó chứa đựng những yếu tố, những hạt nhân hợp lý như hòa giải. Thứ ba: Hòa giải góp phần khôi phục, duy trì, củng cố sự đồng thuận, đoàn kết trong xã hội. Bởi lẽ hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp mà mỗi bên đều chấp nhận nhượng bộ một phần quyền lợi của mình để đạt được thỏa thuận. Mặt khác, hòa giải thành là dựa trên sự tự nguyện của các bên, không do ai áp đặt, cưỡng ép nên các bên sẽ tự giác thực hiện cam kết của mình.
Tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh nếu được giải quyết bằng con đường hòa giải thì kết quả của hòa giải thường mang tính bền vững. Thứ tư: Hòa giải góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các thành viên trong xã hội. Khi hòa giải (dù là hình thức nào) đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó có xử sự phù hợp với quy định pháp luật. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp phát sinh do các bên không hiểu biết pháp luật, nên lầm tưởng rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, hoặc cho rằng hành vi của mình là đúng pháp luật.
Nếu các bên được giải thích pháp luật một cách cặn kẽ, tranh chấp có thể sẽ được giải quyết dứt điểm và nhanh chóng. Thứ năm: Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.