Luận văn: Hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý lớp 11 THPT

Luận văn thạc sĩ tập trung vào việc hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý lớp 11 THPT, nâng cao hiệu quả giáo dục.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm

Tác giả

Hoàng Thị Loan

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2016

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý lớp 11

Kỹ năng sử dụng bản đồ là một trong những kỹ năng cốt lõi trong chương trình Địa lý lớp 11 THPT. Bản đồ đóng vai trò là phương tiện dạy học trực quan, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức địa lý một cách sinh động và chính xác. Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Loan (2016), kỹ năng sử dụng bản đồ bao gồm nhiều thao tác như đọc, phân tích, khai thác thông tin từ các loại bản đồ khác nhau. Quá trình hình thành kỹ năng này không diễn ra tức thì. Nó đòi hỏi sự rèn luyện liên tục qua nhiều giai đoạn. Học sinh cần trải qua ba cấp độ: kỹ năng ban đầu, kỹ xảo và kỹ năng hoàn thiện. Kỹ năng ban đầu là khả năng vận dụng kiến thức vào hành động đơn giản. Kỹ xảo hình thành sau khi luyện tập nhiều lần, mang tính tự động hóa. Kỹ năng hoàn thiện đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn và yếu tố sáng tạo. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc rèn luyện kỹ năng sử dụng bản đồ giúp học sinh phát triển tư duy không gian, khả năng phân tích và tổng hợp thông tin địa lý một cách toàn diện.

1.1. Khái niệm kỹ năng sử dụng bản đồ

Kỹ năng sử dụng bản đồ được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức địa lý để đọc, phân tích và khai thác thông tin từ bản đồ. Đây là tổ hợp các thao tác có mục đích, được thực hiện dưới sự điều khiển của ý thức. Kỹ năng này bao gồm nhiều hoạt động cụ thể: xác định vị trí địa lý, nhận dạng ký hiệu, so sánh đối chiếu dữ liệu trên bản đồ. Quá trình hình thành kỹ năng đi từ mức đơn giản đến phức tạp. Kỹ năng ban đầu xuất hiện trên cơ sở vốn kiến thức sẵn có. Kỹ xảo được hình thành qua luyện tập lặp đi lặp lại. Kỹ năng hoàn thiện đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của học sinh.

1.2. Vai trò của bản đồ trong chương trình Địa lý 11

Bản đồ là phương tiện dạy học không thể thiếu trong môn Địa lý lớp 11. Chương trình SGK Địa lý 11 bao gồm nhiều đơn vị kiến thức lớn: Địa lý các châu lục, Địa lý các quốc gia. Mỗi bài học đều yêu cầu học sinh khai thác bản đồ để nắm vững vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội. Bản đồ giúp học sinh hình dung không gian địa lý một cách trực quan. Thông qua bản đồ, học sinh rèn luyện khả năng quan sát, so sánh và phân tích. Giáo viên sử dụng bản đồ làm công cụ truyền đạt kiến thức. Bản đồ cũng là phương tiện chính để kiểm tra đánh giá kỹ năng của học sinh trong suốt quá trình dạy học.

II. Các vấn đề tồn tại trong việc hình thành kỹ năng bản đồ Địa lý 11

Thực tế giảng dạy Địa lý lớp 11 cho thấy nhiều vấn đề trong việc hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ cho học sinh. Thứ nhất, nhiều học sinh thiếu kỹ năng quan sát bản đồ cơ bản. Các em không biết cách xác định hướng, tỷ lệ, hệ thống ký hiệu. Thứ hai, khả năng phân tích và khai thác thông tin từ bản đồ còn hạn chế. Học sinh thường chỉ đọc được thông tin đơn lẻ mà không biết liên hệ, so sánh giữa các yếu tố địa lý. Thứ ba, một số giáo viên chưa khai thác hết vai trò của bản đồ trong giờ học. Việc sử dụng bản đồ thường mang tính minh họa, chưa phát huy tính tích cực của học sinh. Thứ tư, hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh làm việc với bản đồ chưa được thiết kế khoa học. Câu hỏi thiếu rõ ràng về yêu cầu và mức độ nhận thức. Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá kỹ năng sử dụng bản đồ chưa được thực hiện thường xuyên và hệ thống. Điều này khiến học sinh không có động lực rèn luyện kỹ năng một cách nghiêm túc.

2.1. Hạn chế trong kỹ năng quan sát và đọc bản đồ của học sinh

Nhiều học sinh lớp 11 gặp khó khăn khi quan sát và đọc bản đồ. Các em chưa nắm vững hệ thống ký hiệu bản đồ. Khả năng xác định hướng, tọa độ địa lý còn yếu. Học sinh thường nhầm lẫn giữa các loại bản đồ khác nhau. Khi được yêu cầu khai thác thông tin, các em chỉ nhìn lướt qua mà không tập trung vào chi tiết quan trọng. Nguyên nhân chính là thiếu sự định hướng cụ thể từ giáo viên. Học sinh không biết cần phải quan sát cái gì trước, cái gì sau. Việc thiếu kỹ năng đọc bản đồ khiến quá trình tiếp thu kiến thức địa lý trở nên thụ động và kém hiệu quả.

2.2. Hạn chế trong phương pháp dạy học sử dụng bản đồ

Phương pháp dạy học hiện tại tồn tại nhiều hạn chế trong việc sử dụng bản đồ. Nhiều giáo viên coi bản đồ chỉ là công cụ minh họa, chưa khai thác hết giá trị giáo dục. Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh làm việc với bản đồ chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng. Câu hỏi thiếu tính hệ thống, không phân hóa theo mức độ nhận thức. Giáo viên chưa lồng ghép việc rèn luyện kỹ năng bản đồ trong suốt quá trình dạy học. Hoạt động thực hành với bản đồ thường bị cắt giảm do thiếu thời gian. Việc kiểm tra đánh giá kỹ năng sử dụng bản đồ chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến học sinh không có cơ hội rèn luyện và hoàn thiện kỹ năng.

III. Phương pháp hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ hiệu quả cho học sinh lớp 11

Để hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ hiệu quả, giáo viên cần áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp thứ nhất là sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng khi học sinh quan sát bản đồ. Trước khi yêu cầu học sinh khai thác bản đồ, giáo viên cần đặt ra các câu hỏi cụ thể. Các câu hỏi phải rõ ràng về yêu cầu và phân hóa theo mức độ nhận thức. Phương pháp thứ hai là tổ chức các hoạt động thực hành thường xuyên. Học sinh cần được luyện tập với bản đồ trong mỗi tiết học, cả trên lớp và tại nhà. Phương pháp thứ ba là lấy bản đồ làm phương tiện chủ yếu để truyền đạt kiến thức. Mọi hoạt động giảng dạy, bài tập và kiểm tra đều nên gắn liền với bản đồ. Phương pháp thứ tư là sử dụng kết hợp nhiều loại bản đồ khác nhau: bản đồ địa lý tự nhiên, bản đồ kinh tế xã hội, lược đồ, biểu đồ. Sự đa dạng này giúp học sinh hình thành kỹ năng toàn diện. Cuối cùng, cần có biện pháp kiểm tra đánh giá sát thực suốt quá trình dạy học.

3.1. Thiết kế hệ thống câu hỏi định hướng khi sử dụng bản đồ

Hệ thống câu hỏi định hướng là yếu tố then chốt giúp học sinh khai thác bản đồ hiệu quả. Giáo viên cần xây dựng câu hỏi trước khi học sinh quan sát bản đồ. Câu hỏi phải chỉ rõ học sinh cần quan sát nội dung gì, phân tích yếu tố nào. Mỗi câu hỏi cần thể hiện mức độ nhận thức khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Ví dụ, khi dạy về một quốc gia, giáo viên cần giới thiệu lược đồ gồm những đặc điểm nổi bật về vị trí địa lý. Sau đó đặt câu hỏi hướng dẫn học sinh phân tích đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội. Hệ thống câu hỏi tốt giúp học sinh biết cách tư duy khi tiếp xúc với bản đồ. Học sinh dần hình thành thói quen khai thác thông tin có hệ thống.

3.2. Tổ chức hoạt động thực hành và kiểm tra đánh giá kỹ năng bản đồ

Hoạt động thực hành cần được tổ chức thường xuyên trong suốt năm học. Giáo viên nên yêu cầu học sinh làm việc với bản đồ trong mỗi tiết học. Các bài tập về nhà cần gắn liền với việc khai thác bản đồ. Học sinh cần được hướng dẫn cách so sánh, đối chiếu thông tin từ nhiều loại bản đồ khác nhau. Việc kiểm tra đánh giá kỹ năng sử dụng bản đồ phải được thực hiện liên tục. Giáo viên cần xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể cho từng mức độ kỹ năng. Từ kết quả đánh giá, giáo viên có biện pháp khắc phục kịp thời những hạn chế của học sinh. Hoạt động thực hành và đánh giá tạo thành vòng lặp liên tục, giúp kỹ năng sử dụng bản đồ được củng cố và hoàn thiện dần.

IV. Kết luận và ứng dụng kỹ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý

Kỹ năng sử dụng bản đồ giữ vị trí trung tâm trong dạy học Địa lý lớp 11 THPT. Việc hình thành kỹ năng này đòi hỏi quá trình rèn luyện có hệ thống, liên tục và có phương pháp phù hợp. Từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy, khi giáo viên áp dụng đúng phương pháp, kỹ năng sử dụng bản đồ của học sinh được cải thiện rõ rệt. Kết quả thực nghiệm tại các trường THPT Đồng Hỷ, Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc và THPT Lương Ngọc Quyến chứng minh hiệu quả của các biện pháp sư phạm. Học sinh nhóm thực nghiệm có kết quả phân loại trình độ cao hơn nhóm đối chứng. Ứng dụng của kỹ năng sử dụng bản đồ không chỉ dừng lại ở môn Địa lý. Kỹ năng này hỗ trợ học sinh trong nhiều lĩnh vực khác: tư duy không gian, khả năng phân tích tổng hợp, kỹ năng giải quyết vấn đề. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc coi trọng kỹ năng sử dụng bản đồ là yêu cầu cấp thiết. Giáo viên cần thường xuyên cập nhật phương pháp dạy học mới. Chương trình đào tạo giáo viên cũng cần nhấn mạnh vai trò của kỹ năng bản đồ.

4.1. Kết quả thực nghiệm hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ

Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại ba trường THPT ở tỉnh Thái Nguyên. Nhóm thực nghiệm áp dụng các biện pháp sư phạm để hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ. Nhóm đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống. Kết quả cho thấy điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn đáng kể. Phân loại trình độ học sinh qua bài kiểm tra cho thấy tỷ lệ học sinh đạt mức khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm lớn hơn nhóm đối chứng. Số học sinh yếu kém ở nhóm thực nghiệm giảm rõ rệt. Kết quả này chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp sư phạm được áp dụng. Thực nghiệm khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức dạy học có phương pháp trong hình thành kỹ năng bản đồ.

4.2. Ý nghĩa và hướng phát triển kỹ năng bản đồ trong tương lai

Kỹ năng sử dụng bản đồ có ý nghĩa to lớn trong phát triển năng lực học sinh. Kỹ năng này giúp học sinh tư duy không gian, phân tích và tổng hợp thông tin hiệu quả. Trong thời đại công nghệ số, bản đồ số và ứng dụng GIS mở ra hướng phát triển mới. Giáo viên cần tích hợp công nghệ hiện đại vào dạy học bản đồ. Chương trình đào tạo giáo viên sư phạm cần tăng cường nội dung rèn luyện kỹ năng bản đồ. Các trường THPT nên đầu tư trang thiết bị dạy học phù hợp. Hướng phát triển trong tương lai cần gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học. Mục tiêu cuối cùng là giúp học sinh sử dụng bản đồ thành thạo trong học tập và đời sống thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026
Luận văn thạc sĩ hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí lớp 11 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 1. Một số vấn đề trong dạy học địa lí 1. Khái niệm về quá trình dạy học Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học. Học sinh sẽ thu nhận kiến thức từ kho tàng văn hóa xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân.

“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và HS (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học. Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa” [15] Quan niệm trên về quá trình dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của HS. Hai quá trình không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Trong quá trình hoạt động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giúp họ tự khám phá ra tri thức.

Tất nhiên người giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết. Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy. Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp HS sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình. [6] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới.

Chính HS chứ không phải người nào khác phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục. Tính chất hành động của họ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu. [11] Từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa quá trình dạy học như sau: Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Mục đích dạy học Trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đề ra năm 1991 có ghi rõ: “Giáo dục là sự nghiệp đào tạo và xây dựng con người vừa phục vụ nhiệm vụ kinh tế trước mắt, vừa chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn lâu dài”, “Giáo dục đào tạo những thế hệ trẻ thành người lao động có ý thức làm chủ, có tri thức thành thạo nghề nghiệp, có thái độ tích cực sáng tạo…”.

Như vậy mục đích của dạy học là đào tạo thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước bằng cách trang bị những kiến thức cơ bản, được quy định trong chương trình dạy và học của Bộ giáo dục và Đào tạo.[1] Giáo dục cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, phát triển năng lực của mỗi cá nhân và hình thành lối sống văn hóa. Qua giáo dục mỗi con người trở thành người lao động tự chủ, năng động, thông minh và sáng tạo tham gia một cách có ý thức trách nhiệm vào công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng, đất nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www. Nhiệm vụ dạy học - Nhiệm vụ 1: Làm cho HS nắm vững hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại.

phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. - Nhiệm vụ 2: Phát triển trong HS năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo. - Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở vũ trang tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và thực hành mà hình thành cho HS cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức của con người mới. Ba nhiệm vụ dạy học nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành mục đích giáo dục.

Phương pháp dạy học Phương pháp hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất là hành vi thực hiện một công việc có mục đích nhất định. Đó cũng là cách thức, con đường mà người ta cần đi theo để đạt được mục đích. Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và HS trong phạm trù hoạt động dạy và học, nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học, thường gặp một số quan niệm về phương pháp dạy học như sau: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục HS theo mục tiêu của nhà trường.

Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trọng tâm giữ vai trò chỉ đạo, còn HS thì thụ động thực hiện những điều thầy dạy, người thầy cố gắng truyền đạt hết những kiến thức và kinh nghiệm của mình để hoàn thành bài giảng còn HS lắng nghe lời giảng của thầy, ghi chép và học thuộc. [4] Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việc của giáo viên và HS trong quá trình dạy học, nhằm đạt tới mục đích giáo dục. Như vậy, quan niệm này coi phương pháp dạy học là một sự kết hợp của hai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn hoạt động dạy và học. Nhiệm vụ truyền đạt tri thức của giáo viên cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của HS.

Có thể nói đây là quan niệm mới nhất về phương pháp dạy học. Theo quan niệm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức, HS có vai trò chủ động trong quá trình dạy học. Nói một cách khác các phương pháp học tập, xuất phát từ các qui luật của sự lĩnh hội tri thức quyết định hoạt động dạy của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên. Có thể phân chia phương pháp dạy học địa lí thành 3 nhóm: - Nhóm các phương pháp truyền thống, sử dụng ngôn ngữ nói để trình bày, lấy thầy làm trung tâm.

Trong dạy học địa lí nhóm các phương pháp dùng lời vẫn được đa số giáo viên sử dụng từ trước đến nay. Nhóm này gồm các phương pháp: Diễn giảng, giảng thuật, giảng giải và đàm thoại. Các phương pháp dùng lời có một số ưu điểm nhất định. Chúng có khả năng cung cấp cho HS một lượng thông tin lớn trong một thời gian ngắn.

Nếu như lời lẽ trình bày của giáo viên trong sáng, truyền cảm, nội dung khoa học, chính xác, có lôgic chặt chẽ thì bài giảng sẽ có sức hấp dẫn, làm cho HS tiếp thu tri thức một cách dễ dàng. Tuy nhiên, nhược điểm chính của nhóm phương pháp này là kém tác dụng trong việc phát huy trí lực cũng như hạn chế năng lực chủ động, sáng tạo của HS trong việc lĩnh hội tri thức. Các phương pháp dùng lời đều thiên về việc cung cấp cho HS những tri thức làm sẵn. - Nhóm các phương pháp hướng dẫn HS tích cực, chủ động khai thác tri thức với các nguồn tri thức và phương tiện thiết bị kỹ thuật dạy học địa lí.

Đây là nhóm phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những khái niệm, biểu tượng địa lí cho HS. Đối với môn địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học là rất cần thiết vì HS chỉ có thể quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.vn sát được một phần nhỏ các đối tượng, hiện tượng địa lí ở xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì không có điều kiện quan sát trực tiếp như sự biến đổi của các hiện tượng: Động đất, núi lửa,. hay những cảnh quan không có ở nước ta như địa hình băng tuyết, hoang mạc,. khi đó HS chỉ có thể hình dung ra nhờ các phương tiện trực quan.

Theo ý kiến của M.Xtuđênikin [Dẫn theo 13] phương tiện trực quan bao giờ cũng có hai chức năng: Phương tiện minh hoạ và nguồn tri thức. Khi sử dụng các phương tiện trực quan nếu giáo viên sử dụng như một nguồn tri thức để cho HS khai thác trong quá trình học tập thì việc sử dụng nó có thể coi như một phương pháp, còn nếu chỉ sử dụng như một đồ dùng minh hoạ thì đó là biện pháp phục vụ cho phương pháp dùng lời. Những phương tiện trực quan thường được sử dụng trong dạy học địa lí là: + Tranh ảnh giáo khoa địa lí, các tranh ảnh minh hoạ trong SGK. + Các mô hình, mẫu vật, các bộ sưu tầm phục vụ cho chủ đề về địa lí.

+ Phim ảnh, phim đèn chiếu, băng video,. + Các loại bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ,. - Nhóm các Phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm: Nhóm này gồm có nhiều phương pháp, trong đó HS thể hiện rõ vai trò chủ thể trong việc lĩnh hội kiến thức, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình bằng cách phát huy năng lực của bản thân dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Với các phương tiện học tập, HS phải tự lực đến mức tối đa để khai thác kiến thức qua sự hướng dẫn của giáo viên, qua các bài viết trong sách giáo khoa, qua các nguồn tri thức khác nhau: Bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, các số liệu thống kê, các phương tiện nghe nhìn và các tranh ảnh địa lí, các tài liệu thông tin khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ