Chương 1: Hiệu ứng lạ hóa – nguyên tắc cơ bản trong kịch tự sự của Bertolt Brecht. Chương này trình bày những nguyên tắc kịch nghệ trước kịch tự sự của Bertolt Brecht và cơ sở hình thành, nguyên tắc của sân khấu kịch tự sự. Chương 2: Hiệu ứng lạ hóa trong cố t truyện và xung đột kịch. Chương này phân tích sự lạ hóa trong cốt truyện và xung đột kịch của Bertolt Brecht.
Chương 3: Hiệu ứng lạ hóa trong diễn ngôn. Chương này xem xét sự lạ hóa trong khía cạnh ngôn ngữ kịch và lời chú. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: HIỆU ỨNG LẠ HÓA – NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG KỊCH TỰ SỰ CỦA BERTOLT BRECHT 1. Những nguyên tắc kịch truyền thố ng Aristotle 1.Thi pháp kịch Aristotle Từ bao nhiêu năm qua, cứ nói tới viết kịch là người ta lại nhắc đến luật lệ Aristotle - đã được đúc kết trong Nghệ thuật thi ca nổi tiếng của ông.
Aristotle, nhà lí luận văn học cổ đại cho rằng nghệ thuật có thiên chức làm trong sạch tâm hồn con người. Aristotle đã giải thích: Bằng hành động chứ không phải câu chuyện kể, bi kịch tẩy rửa những cảm xúc qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp và kịch tác động đến khán giả thông qua sự lôi cuốn đối với cảm xúc, cảm giác và niềm vui thích của họ. Trong trường hợp của bi kịch, khán giả trải nghiệm một “sự thanh tẩy” hay phóng thích cảm xúc, thông qua sự khuấy động và lắng đọng của những cảm giác trắc ẩn và sợ hãi. Sự tham dự đồng cảm của chúng ta vào những diễn biến dữ dội và đau khổ trong thế giới hư cấu của nhà soạn kịch đem đếnn cho chúng ta niềm vui, sự phóng thích cảm xúc và sự nhận thức những phương diện cơ bản của hiện hữu con người [1, tr.
Từ đó, ông quan niệm sân khấu kịch phải đem lại ảo giác, khiến khán giả được sống cuộc đời khác, cao đẹp hơn, và từ thích thú nghệ thuật đó mà được “thanh lọc”. Quan niệm này đã chi phối chặt chẽ cách xây dựng cốt truyện kịch của Aristotle cả về độ hoàn chỉnh và qui mô có hạn độ. Tình tiết của câu chuyện do đó cũng phải phù hợp với logic nhân quả, cái này nảy sinh từ cái kia, buộc phải có sự nối tiếp hữu cơ giữa các phần với nhau thành một đường thẳng; hay nói cách khác, lộ trình triển khai xung đột kịch phải tuân theo trình tự tuyến tính, trước sau về mặt thời gian. Hành động kịch vì thế cũng phải thống nhất, cốt truyện phải tập trung, cách sắp xếp và phát triển các hành động bao gồm phần bắt đầu, khúc giữa và phần kết thúc.
Sau này, lí luận văn học phương Tây đi đến 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấu trúc cốt truyện trên cơ sở xung đột với năm phần – năm diễn biến hành động kịch: giao đãi, phát triển, cao trào, thắt nút rồi mở nút. Ba thành phần của cốt truyện kịch theo Aristotle, là sự diễn biến, sự nhận biết, sự đau khổ. Cái chủ yếu mà bi kịch đã lôi cuốn lòng người chính là sự diễn biến và nhận biết. Trong diễn biến thì đặc biệt quan trọng là đột biến.
Đột biến là sự thay đổi các sự kiện theo chiều ngược lại, sự thay đổi theo các quy luật xác suất hay các quy luật tự nhiên. Còn sự nhận biết là sự chuyển biến từ chỗ không biết đến chỗ biết. Thành phần thứ ba là sự đau khổ. Đau khổ là hành động gây ra chết chóc hoặc đau đớn [23].
Chính tính chất căng thẳng này của xung đột mà ta gọi là kịch tính – một đặc điểm thẩm mỹ của kịch, giúp cuốn hút người xem tham gia, đồng cảm với một chuỗi cảm xúc của các nhân vật. Hình thức thể hiện hành động kịch này lại được thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa các nhân vật hay những đoạn độc thoại nội tâm. Nhưng những diễn biến này phải được tạo ra như thế nào để kích thích sự sợ hãi và sự thương cảm của khán thính và độc giả. Nói như nhà nghiên cứu Thụy Khuê: Tác giả bi kịch phải đạt đến một trình độ nghệ thuật nào đó, khiến cho, ta chỉ cần nghe Oedipe không thôi, chưa xem trình diễn, mà đã đẫm cảm, đã nổi da gà [21].
Những cảm giác này chỉ có thể xuất hiện khi diễn biến xảy ra trái với chờ đợi của chúng ta, và nếu nó lại đến một cách tự nhiên hoặc tình cờ thì sự kinh ngạc càng lớn. Và để cho sự xót thương được đẩy đến đỉnh điểm như lối kết cấu đó thì Aristotle chỉ ra rằng chúng ta nên khai thác nhân vật trong phạm vi những người thân yêu vì chỉ có những người thân mà xảy ra sự việc bi thảm, ví dụ: giữa anh với em, con với bố, mẹ với con hay con với mẹ lại giết hại lẫn nhau, hay làm cái gì đó tương tự như vậy, đây mới là những điều mà nhà thơ cần tìm tòi [45,tr. Cái khung nội dung này đã được chuyển tải, vận động trong một hình thức có tính duy nhất về hành động và không-thời gian được dồn nén để tạo điều kiện cho xung đột phát triển. Ngoài ra, một đặc điểm quan trọng khác trong quan niệm về nghệ thuật sân khấu của Aristotle là mối quan hệ giữa nhà thơ và đối tượng bắt chước.
Ngay từ điểm đầu tiên trong “Nghệ thuật thi ca”, Aristotle đã xác định: nghệ thuật là sự 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bắt chước vì bắt chước là khuynh hướng tự nhiên đầu tiên của con người, từ tuổi thơ sử thi, bi kịch cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền – tất cả những cái đó, nói chung đều là những nghệ thuật mô phỏng (hay bắt chước). Văn chương nghệ thuật tuôn chảy từ hai ngọn nguồn là hai bản năng thiên bẩm của con người: bản năng mô phỏng (bắt chước) và bản năng đối với giai điệu và tiết tấu [1, tr. Như vậy, với Aristotle, anh hùng ca, bi ca, hài ca, tụng ca và nghệ thuật trình diễn của những nhạc công đều là bắt chước, chẳng qua là họ bắt chước theo các cách khác nhau mà thôi. Ông cho rằng kịch là sự diễn tả có tính chất tưởng tượng những hành động của con người, nó đạt được mục đích của nó bằng việc sử dụng hiệu quả cốt truyện, các nhân vật, ngôn ngữ và những yếu tố khác.
Sự thích thú của chúng ta trước vở kịch tùy thuộc vào sự đáng tin của các nhân vật và hành động trong thế giới hư cấu do nhà soạn kịch dựng nên. Để làm cho hiệu quả tác động tới người thưởng thức được mạnh hơn, Aristotle chủ trương trình diễn lại câu chuyện trên sân khấu như câu chuyện đang diễn ra trong đời thực, vì ông cho rằng chỉ bằng cách đó mới có thể tìm được cái mình muốn tìm, mới thấy được mẫu thuẫn [45, tr. Mục đích ấy cùng những đặc điểm kể trên về kịch Aristotle đã giúp người xem có cảm giác đang được chứng kiến một câu chuyện xảy ra trước mắt mình chứ không phải là được nghe kể lại một câu chuyện đã qua của tác giả. Aristotle xác định tiêu chuẩn một cốt truyện bi kịch hoàn mĩ: Số phận được thay đổi trong cốt truyện đó…phải từ hạnh phúc sang bất hạnh, điều đó không phải do xấu xa mà là do sự nhầm lẫn lớn của những nhân vật như ta vừa nói hoặc ít ra cũng là người tốt chứ không phải người xấu [1, tr.
Như vậy, để tạo ra hiệu quả thương xót và sợ hãi mà thông qua đó dẫn tới hiệu quả “thanh lọc”, “tẩy rửa” mạnh mẽ, Aristotle đã không chỉ dừng lại ở chỗ hình dung, mà còn yêu cầu tác giả hòa vào tác phẩm, diễn viên hòa vào nhân vật để lôi kéo khán giả hòa theo sân khấu. Có thể nói, chính nhờ yếu tố hòa cảm, thể nghiệm này mà khán giả như được chứng kiến một sự thực hiện tại, khép kín đang diễn ra trước mắt với sự tập trung, căng thẳng cao độ, và do đó, giúp họ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhập cuộc nhanh chóng hơn, đôi khi là một tấm gương phản chiếu chính hình ảnh, số phận, cuộc đời của họ trên sàn diễn. Tất cả đã tạo ra cho sân khấu Aristotle một diện mạo rõ ràng, và người ta thường gọi đó là một sân khấu của ảo giác và hòa cảm, sân khấu của những mối cảm xúc [45, tr. Và chính do tính hoàn chỉnh, mẫu mực của nó mà lý luận về kịch của Aristotle đã được kế thừa hàng năm sau đó, như “pháp chế” của nghề viết kịch.
Bi kịch cổ đại Hy Lạp Aristotle đã từng nhận định: Bi kịch Hy Lạp là một vẻ đẹp của Hy lạp cổ đại, là một thành tựu quan trọng bậc nhất của nền văn học Hy Lạp trong thời kỳ cổ điển của nó, tạo nền móng cho sự ra đời của những tác phẩm kịch nổi tiếng sau này của châu Âu. Thể loại bi kịch là một bước phát triển cao của nghệ thuật thơ ca (Hegel). Bi kịch cổ đại Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Nguồn gốc của nghệ thuật sân khấu Hy Lạp là ở những bài hát Dithyrambe được các đội đồng ca hát lên chúc tụng thần rượu nho Dionysos trong ngày thờ cúng thần.
Các bài hát Dythirambe được các đội đồng ca hát lên, gắn liền với những nghi thức diễn trò Satyre, tức là diễn lại những cảnh sinh hoạt của vị Thần Rượu đi đâu cũng có những nàng Ménades - nữ tư tế - đồng cốt của Tửu Thần và những Satyres đầu người, mình dê đi theo, nhảy múa, la hét như điên như dại [10, tr. Tuy nhiên, nguồn gốc xã hội đích thực của sự ra đời bi kịch Hy Lạp xảy ra tại thành bang Athens giữa hai thế kỷ VI-V (trước CN) - nơi chứng kiến những cuộc xung đột giữa tầng lớp quý tộc cầm quyền và nhân dân lao động. Ngoài ra, còn có mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc ruộng đất bảo thủ chuyên chế và tầng lớp chủ nô công thương đối lập với tầng lớp theo trào lưu tự do dân chủ khiến phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ chống độc tài chuyên chế nổi lên kéo dài suốt mấy thế kỉ. Từ những xung đột xã hội ấy, tinh thân dân chủ, tự do của thời đại, những đổi mới của nhà nước dân chủ chủ nô đã gợi mở cho con người thời bấy giờ một cái nhìn mới đối với thế giới, đối với thực tại, đối với bản thân nó.
Con người tự ý thức về vai trò của 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản thân trong thế giới, trước cuộc đời, ý thức về thân phận của nó.