mở đầu có thể kể đến nhà nghiên cứu Đào Duy Anh với “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938), Nguyễn Văn Huyên viết “Văn minh Việt Nam” (1939, bằng tiếng Pháp, 1995 dịch sang tiếng Việt), từ đó vấn đề nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam càng được quan tâm và có nhiều công trình hơn. Đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu một cách khá toàn diện những vấn đề văn hóa, từ đó xác định khái niệm văn hóa đến cấu trúc văn hóa, loại hình và biểu tượng văn hóa. Trần Ngọc Thêm viết “Cơ sở văn hóa Việt Nam” năm 1995, Trần quốc Vượng (chủ biên) “Cơ sở văn hóa Việt Nam” năm 1997, Đoàn Văn Chúc “Văn hóa học” năm 1997, Phan Ngọc “Bản sắc văn hóa Việt Nam” năm 1998, Chu Xuân Diên “Cơ sở văn hóa Việt Nam” năm 1999, Nguyễn Đăng Duy “Văn hóa học Việt Nam” năm 2002, Nguyễn San và Phan 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đăng “Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam” năm 2002…” [16, tr. Tuy nhiên, đáng chú ý phải kể đến khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” tái bản năm 2009 viết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [51, tr.
Với định nghĩa này ta thấy văn hóa được hiểu là hệ thống các giá trị mà con người sáng tạo ra và tích lũy trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn của họ và đã chỉ ra được mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đây chính là điều kiện để hình thành nên văn hóa qua đây ta thấy văn hóa có tính giá trị và tính lịch sử. Có thể thấy, mặc dù mỗi một nhà nghiên cứu ở những điểm nhìn khác nhau đã đưa những cách hiểu riêng về văn hóa song ở họ tựu chung lại một điểm đó là đều hiểu văn hóa: là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người là chủ thể sáng tạo ra. Khi con người tác động đến tự nhiên thì tạo ra các giá trị vật chất và khi tác động đến các yếu tố xã hội thì tạo ra các giá trị tinh thần. Văn hóa là kết quả của sự vận động, sáng tạo và tích lũy của con người theo quy luật cái đẹp vì thế nó phải được lựa chọn và thẩm định theo thời gian do đó mà văn hóa mang tính chọn lọc.
Mỗi một quốc gia lại có một nền văn hóa riêng và biểu hiện của nó thể hiện trong chính những nếp sống, thói quen, phong tục tập quán, trong lối ứng xử của mỗi cá nhân cũng như trong cả một cộng đồng và nó được truyền lại qua các thế hệ trong quá trình xã hội hóa. Hiện nay, khi xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ số thì vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và ngược lại đang là một mối quan tâm hàng đầu. Trong các công trình nghiên cứu văn hóa, khái niệm “toàn cầu hóa” được nhắc đến thường xuyên. Khái niệm này được cảm nhận và giải thích không giống nhau từ những góc nhìn khác nhau.
Dưới góc độ văn hóa, toàn cầu hóa đem lại cho chúng ta những 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cảm nhận về sự thâm nhập của các xã hội trên thế giới. Sự dịch chuyển của các biên giới văn hóa tạo ra sự không chắc chắn. Trong tương lai một nền văn hóa quốc tế với ý nghĩa như một liên văn hóa sẽ thay thế văn hóa dân tộc. Điều này dẫn đến nguy cơ rạn vỡ thậm chí là biến mất những bản sắc văn hóa được tạo dựng từ hàng nghìn năm qua trong các xã hội truyền thống.
Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Trước hết là các dân tộc có điều kiện nhìn nhận lại chính mình khi so sánh, đối chiếu với văn hóa nhân loại. Các lĩnh vực của đời sống văn hóa được đối sánh với văn hóa nước ngoài để từ đó các chủ thể văn hóa học hỏi và tiếp biến. Ngoài ra giao lưu văn hóa tích cực trong điều kiện như hiện nay sẽ làm thay đổi nhận thức của con người về vấn đề dân tộc và bản sắc từ đó tạo ra những giá trị văn hóa bền vững.
Do vậy để tiến tới một nền văn hóa thế giới hiện đại trong đa dạng, đòi hỏi phải chấp nhận sự tồn tại của nhiều giá trị văn hóa khác nhau và tiến hành đối thoại giữa các nền văn hóa trong đó lấy phương châm: đối thoại văn hóa phải dựa trên sự bình đẳng tương hỗ, tôn trọng tính khác biệt về bản sắc văn hóa và phải thực hiện theo tinh thần khoan dung. Khái niệm văn hóa ứng xử Việt Nam đang bước vào thời kì hội nhập giao lưu với các nước trên thế giới bên cạnh những giá trị và lợi ích tốt đẹp mà chúng ta nhận thấy như: kinh tế phát triển hơn, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao hơn …thì chúng ta đang phải đối mặt với một thách thức rất lớn, vừa giao lưu văn hóa với các nước vừa phải giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Một trong những vấn đề mà đang được xã hội quan tâm tới hiện nay phải kể đến đó là vấn đề văn hóa ứng xử của con người. “Văn hóa ứng xử” là gì muốn hiểu rõ vấn đề này thì trước hết ta cần hiểu được khái niệm “ứng xử”.
Hiểu theo lối triết tự thì “ứng” là ứng biến, ứng phó 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sự tương ứng với một sự vật hiện tượng nào đó. “Xử” có nghĩa là cách cư xử, xử sự, xử thế trước những thay đổi, những tình huống xảy ra trong xã hội. Theo Hoàng Phê trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” thì khái niệm “ứng xử” được hiểu như sau: “Ứng có nghĩa là đáp lại, lên tiếng đáp lại kêu gọi hoặc là mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau. Xử có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ với người khác trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” [43, tr.
Có thể thấy ứng xử thể hiện tư duy của con người biểu hiện trong lối sống, thể hiện vốn hiểu biết, lịch lãm, nhân cách, bản lĩnh văn hóa của một con người. Có tình huống xảy ra thì mới có ứng xử và ứng xử bắt đầu bằng nhận thức thực trạng khách quan từ đó có thể phản ứng bằng cảm tính rồi bằng lí tính như một quá trình nhận thức. Hiểu khái niệm “ứng xử” như vậy thì có thể thấy “Văn hóa ứng xử” là một phạm trù rất rộng lớn nó là sự ghép nối của hai từ “văn hóa” và “ứng xử”. Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” thì “cấu trúc của văn hóa còn chứa hai tiểu hệ liên quan đến thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội” [51, tr.
Qua đây ta thấy khi nghiên cứu về văn hóa ứng xử của con người thì cần đặt con người vào hai môi trường tự nhiên và xã hội để thấy được đầy đủ các các phương diện của văn hóa ứng xử. Sự ứng xử của người Việt được thể hiện rất phong phú trên nhiều phương diện khác nhau. Trước hết với tự nhiên, ta thấy thiên nhiên như người mẹ mang đến cho con người những sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên phong phú và giàu dưỡng chất giúp nuôi lớn con người. Chính vì vậy, ứng xử với thiên nhiên ban đầu con người lệ thuộc vào thiên nhiên sau dần đã thích nghi với thiên nhiên và mong muốn khám phá thiên nhiên.
Lối sống hài hòa với thiên nhiên, nương nhờ thiên nhiên thể hiện đậm nét trong nếp làm, nếp ăn, xây cất nhà cửa, đi lại…nói chung là trong toàn bộ đời sống vật chất của con người 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam. Chính thái độ ứng xử hài hòa với thiên nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách con người Việt Nam. Với môi trường xã hội khi mà ở bên ngoài có vô vàn các vấn đề xảy ra với nhiều mối quan hệ khác nhau con người phải tập thích ứng và hòa nhập. Thích ứng là những thay đổi của con người để phù hợp với những điều kiện mới, yêu cầu mới của xã hội đặt ra.
Khả năng này càng cao con người càng lành mạnh. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng phải hòa nhập với con người và môi trường. Tức là con người không sống cô lập mà phải nương tựa vào nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Do vậy, khả năng duy trì các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh là điều vô cùng cần thiết đối với mỗi cá nhân.
Con người kém khả năng này rắc rối, khó khăn và căng thẳng sẽ thường xuyên diễn ra. Nhưng việc thay đổi khả năng này như thế nào lại là một vấn đề đặt ra cho mỗi cá nhân trong hiện tại và cả tương lai. Với chính bản thân mình con người cũng cần phải có sự ứng xử phù hợp. Luôn yêu quý và trân trọng bản thân là điều trước hết mỗi con người cần phải có.
Bởi một thực tế nếu không yêu quý mình thì sẽ không thể yêu quý được ai khác. Con người với chính mình luôn phải học hỏi, trau dồi kinh nghiệm và vốn sống, sự hiểu biết. Bên cạnh học hỏi để hoàn thiện bản thân chúng ta cũng không ngừng đấu tranh để vươn tới cái đẹp. Tuy nhiên, để thực hiện được những điều trên đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự quyết tâm, tinh thần cầu thị song không phải cá nhân nào cũng dễ dàng làm được và ứng xử phù hợp.
Văn hóa ứng xử luôn được người Việt Nam đề cao bởi nó không chỉ thể hiện trình độ văn hóa, văn minh của cộng đồng mà hơn hết nó giúp ta thấy được giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân. Do đó mỗi cá nhân lại có những hành vi văn hóa ứng xử khác nhau và điều này phụ thuộc vào quá trình học tập, rèn luyện, trưởng thành của mỗi con người.