CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Để có cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, luận văn đã tiến hành tổng hợp và đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngữ dụng học và truyện cười từ góc nhìn ngữ dụng học, cụ thể như sau: 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngữ dụng học Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu liên quan đến ngữ dụng học đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi đã có thể tiếp cận được các công trình, bài viết theo các hướng nghiên cứu khác nhau, gồm: 1.
Hướng nghiên cứu thuần túy lí thuyết ngữ dụng học Ngữ dụng học là bộ môn mới ra đời trong ngôn ngữ học, có đối tượng nghiên cứu hoạt động, hành vi nói năng của những người tham gia hội thoại trong giao tiếp bằng ngôn ngữ. Hay nói một cách khác, Dụng học (pragmatics) đi “nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục tiêu cụ thể”. 160) Ở nước ngoài, việc nghiên cứu thuần túy lí thuyết ngữ dụng học đã được các tác giả dày công nghiên cứu, có thể kể đến các phạm trù như: Hành động ngôn từ ((Austin (1955, 1962) và Searle (1968)); Nguyên tắc trong giao tiếp và các phương châm hội thoại (Grice (1975); Lý thuyết lịch sự (Lakoff (1973), Leech (1983), Brown và Levinson (1978); Các phương châm về tính lịch sự (Geoffrey Leech (1983); Nghĩa tiền giả định (Levinson (1983); Các phổ niệm ngữ dụng (Jürgen Habermas (1979); Lý thuyết tương đối (Lý thuyết quan yếu đã được phát triển bởi Dan Sperber, Deirdre Wilson (2005). Bên cạnh đó, Mey, Jacob L.
(1993) cũng chỉ ra rằng: “Ngữ dụng học (pragmatics) là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa. Ngữ dụng học bao hàm cả lý thuyết hành vi ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả những cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong Triết học, Xã hội học và Nhân học. Tác giả còn cho rằng: “Ngữ dụng học giải thích vì sao người sử dụng ngôn ngữ lại có thể vượt qua những rào cản rõ ràng về sự mơ hồ nghĩa (hay lưỡng nghĩa), vì nghĩa phụ thuộc vào cách thức, vị trí, thời gian, v. của một 7 phát ngôn”.
8 – 10) Hay các tác giả Dale April Koike (1989), Daejin Kim et al. (2002) và Masahiro Takimoto (2008) thì lại nhấn mạnh đến “Khả năng hiểu hàm ý của một người khác được gọi là ngữ năng ngữ dụng (pragmatic competence)” (Daejin Kim et al. 332 – 348); (Masahiro Takimoto, 2008, tr. 369 – 386); (Dale April Koike, 1989, tr.
Do hoạt động nói năng là tác động nên các phương diện nghiên cứu của ngữ dụng học là hành vi ngôn ngữ, hội thoại, lập luận, trong đó đặc biệt chú ý làm rõ việc người nói sử dụng ngôn ngữ như thế nào để tạo ra lối nói trong từng bối cảnh nói năng, giao tiếp cụ thể và phân tích nghĩa hiển ngôn, hàm ngôn trong đó. Ngoài ra, trên thế giới có hai công trình viết về các nội dung liên quan đến ngữ dụng học như: “Playing with words _ humour in the English language” nói về các hiện tượng chơi (đố) chữ và sự hài hước trong Ngôn ngữ Anh (Barry, J. Hài hước và các kiểu chơi chữ khác chiếm phần lớn trong trải nghiệm ngôn ngữ bình thường của chúng ta mà hầu hết mọi người có thể nhận ra; “The Routledge Handbook of Language and Humor” của Salvatore Attardo (2017) là quyển sách nổi tiếng nghiên cứu về Ngôn ngữ và Hài hước. Routledge Handbook of Language and Humor trình bày cách xử lý chuyên sâu đầu tiên về tất cả các lĩnh vực phụ của ngôn ngữ học liên quan đến tính hài hước, mối liên hệ mật thiết của nghiên cứu ngôn ngữ và hài hước.
Người đọc sẽ được giới thiệu toàn diện về lịch sử, thuật ngữ và lý thuyết về lĩnh vực này, cũng như các phương pháp tiếp cận khác nhau về ngôn ngữ và sự hài hước với các tiêu đề như: trêu đùa, cười cợt, mỉa mai; ngôn ngữ học tâm lý, phân tích diễn ngôn, các lý thuyết ngôn ngữ chính về sự hài hước và dịch thuật cũng như các phương pháp tiếp cận tiên tiến về hài hước trên internet, ngôn ngữ học tri nhận, lý thuyết liên quan và các mô hình ngôn ngữ và sự hài hước được hỗ trợ từ các ngữ liệu. Các chương trong sách này còn đề cập nhiều vấn đề chẳng hạn như Ngôn ngữ học xã hội học biến đổi, phong cách học và phép lịch sự. Công trình còn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn và phân tích từ ngữ liệu được hỗ trợ cho phép đánh giá từ nhiều góc độ về các hiện tượng phức tạp liên ngành; các hiện tượng ngôn ngữ có chủ đích ở phạm vi rộng. Có thể nói công trình này là một tài liệu tham khảo không thể thiếu cho tất cả các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự tác động lẫn nhau của ngôn ngữ đối với tính hài hước trong ngôn ngữ học theo các quan niệm rộng rãi, cũng như cung cấp nhiều thông tin cần thiết 1 “In this respect, pragmatics explains how language users are able to overcome apparent ambiguity, since meaning relies on the manner, place, time etc.
of an utterance.edu/entries/pragmatics/] 8 cho các ngành lân cận như nghiên cứu Ngữ dụng học, Văn học, Tâm lý học, Xã hội học và Nhân loại học. Như vậy, bằng cách này hay cách khác, các tác giả nước ngoài cũng đã chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học. Theo đó, ngữ dụng học được hiểu là nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ với ngữ cảnh (hay cách dùng ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể). Ngữ dụng học còn khai thác ở các khía cạnh sau: trực chỉ, tiền giả định, quy chiếu, hành động lời nói, hàm ngôn hội thoại, lý luận, sự im lặng – Một nguyên lí hồi chỉ của tỉnh lược ngữ dụng, v.
Ở Trung Quốc, chúng tôi thấy có những công trình như: “当代语用 学 ” (Ngữ dụng học đương đại)” của hai tác giả 何自然, 陈新仁 (Hà Tự Nhiên & Trần Tân Nhân, 2004). Công trình này đã chỉ ra những vấn đề cơ bản của “Ngữ dụng học đương đại”, đồng thời nó đã giới thiệu một cách có hệ thống các mô hình lý thuyết về giao tiếp bằng lời nói, lý thuyết về hành vi lời nói, các hiện tượng biểu diễn trong sử dụng ngôn ngữ vào ngữ cảnh nhất định, các tiền đề, các rào cản, các đặc điểm ngữ dụng và chức năng giao tiếp của các dấu hiệu ngữ dụng/ diễn ngôn; công trình “语用学概论 (Đại cương ngữ dụng học)” của tác giả 何自然 (Hà Tự Nhiên, 1988) gồm có 7 chương khái quát ngữ dụng học. Nội dung bao gồm hành động lời nói, phân tích ngữ dụng của cấu trúc diễn ngôn, ứng dụng của ngữ dụng, v.v; công trình “语用学的发展与 现状” của tác giả 夏中华 (Hạ Trung Hoa, 2015) đã nghiên cứu về “Hiện trạng và sự phát triển của ngữ dụng học”. Đây là công trình đã lấy quá trình phát triển lịch sử của ngữ dụng học làm trục tung và hiện trạng các ngành học làm trục hoành để tổng kết sự phát triển của ngữ dụng học, lý giải động lực nghiên cứu, thực trạng và xu hướng phát triển ở trong và ngoài nước.
Đây là loại hình nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn quan trọng, tích cực trong việc nhận biết hướng phát triển của Ngữ dụng học, đi sâu nghiên cứu ngữ dụng học, phản ánh thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá tư duy, thúc đẩy sự phát triển của ngữ dụng học và phản ánh vai trò to lớn của cả ngôn ngữ học. Đồng thời, nó cũng có thể cung cấp thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu sự vi phạm phương châm hội thoại trong cấu trúc hội thoại. Ngoài ra, chúng tôi không thể không nhắc đến《汉语语用学教程》- “Giáo trình ngữ dụng học Hán ngữ” của tác giả 陈新仁 (Trần Tân Nhân, 2017). Công trình này đã đề cập đến những nội dung về lý thuyết thuần tuý ngữ dụng học như sau: khái quát về ngữ dụng học trong tiếng Hán, ngữ cảnh, hành vi ngôn ngữ, hàm ý hội thoại, quy chiếu - sở chỉ (trực chỉ), cấu trúc hội thoại, nguyên tắc cộng tác, nguyên tắc lịch sự, năng lực ngữ dụng, v.
Công 9 trình này không những nêu bật những cơ sở lý luận chung về ngữ dụng học, những khái niệm và lý thuyết liên quan về ngữ dụng học trong tiếng Hán mà còn có thể giúp người đọc nắm vững kiến thức lý thuyết về ngữ dụng và vận dụng chúng một cách có hệ thống bài bản. Ngoài vấn đề ngữ dụng ra, tác giả Trần Tân Nhân (2017) còn có các xu hướng nghiên cứu chuyên sâu đó là phân tích diễn ngôn, giáo dục ngoại ngữ, xây dựng bản sắc dân tộc, xây dựng mối quan hệ quyền lực, diễn ngôn học thuật, diễn ngôn thể chế, v. Nội dung nghiên cứu đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngữ dụng. Tóm lại, giáo trình không chỉ giải thích về các khía cạnh của ngôn ngữ học, mà còn đi sâu khai thác lý thuyết và trích dẫn một số lượng lớn các ví dụ minh hoạ về ngữ dụng nhằm hướng đến mục đích kết hợp giữa lý thuyết và thực hành cũng như giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngữ dụng góp phần trau dồi năng lực ngữ dụng cho người học.
Thêm vào đó, tác giả 克鲁斯 (Alan Cruse, 2014) trong quyển《当代国 外语言学与应用语言学文库(第三辑)·语言的意义:语义学与语用学导 论》(Bộ sách Ngôn ngữ học Ứng dụng và Ngôn ngữ nước ngoài đương đại (Tái bản lần thứ ba) · Giá trị ngôn ngữ: Giới thiệu ngữ nghĩa học và ngữ dụng học) đã trình bày một cách có hệ thống những khía cạnh quan trọng của ngôn ngữ học và đi đến kết luận đặc biệt rằng: từ ý nghĩa lô gíc đến ý nghĩa ngữ dụng, từ ý nghĩa từ vựng đến ý nghĩa ngữ pháp, từ nghiên cứu hình thức đến nghiên cứu về chức năng, từ quan niệm truyền thống đến nhận thức tư duy, hầu như không có gì không liên quan đến ngữ nghĩa. Bộ sách này có cấu trúc khung hoàn chỉnh và độ bao quát rất rộng.