CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỆN CƯỜI 1. Truyện cười dân gian Truyện cười dân gian là những sáng tác do dân chúng sáng tạo và lưu truyền từ xưa đến nay. Dân chúng là một khái niệm bao gồm nhiều tập hợp người với những nghề nghiệp, sở thích, năng khiếu khác nhau. Cái gọi là dân, dân chúng cũng vận động theo thời gian.
Trong thời quân chủ/ phong kiến, dân chúng là những nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và trí thức bình dân. Nông dân là những người sống ở nông thôn, canh tác ruộng đất và chăn nuôi. Thợ thủ công là những người chủ yếu không sản xuất nông nghiệp mà làm các công việc như đan lát, làm đồ mộc, làm gạch, xây dựng nhà cửa,… Tuy phân biệt rành mạch như vậy, nhưng thực tế, những người nông dân làm ruộng là chủ yếu, nhưng họ vẫn có thể đan lát, đóng gạch, làm mộc cho gia đình mình hoặc làm các công việc trên để có sản phẩm đem bán hoặc dựng nhà, dựng cửa cho người khác để nhận thù lao khi nông nhàn. Số lượng những người thợ thủ công chỉ chuyên làm nghề này không nhiều.
Ở Bắc Bộ, thời quân chủ chỉ có hai làng không có nghề làm ruộng là làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và làng gốm Quế Quyển (Hà Nam). Do không có đất đai sản xuất, hai làng này không có người làm ruộng. Khi nói đến nghề thủ công, hiện nay chúng ta hay nói đến làng nghề. Nói như vậy không có nghĩa là cả làng đó làm nghề, mà chỉ có một bộ phận lớn sản xuất ra một mặt hàng nhất định như làng mây tre đan, làng làm lược, làng làm trống.
Trong làng vẫn có một bộ phận chuyên làm nông nghiệp và những người thợ thủ công ở những làng vừa nêu cũng biết làm nghề nông. Những người làm nghề buôn bán trong xã hội quân chủ thường là những người buôn bán nhỏ và đại đa số là phụ nữ. Ngày xưa phụ nữ chỉ không làm các nghề buôn gia súc (trâu, bò, lợn) và buôn bè. Ở Bắc Bộ cũng đã hình thành một số làng buôn như Đan Loan, Báo Đáp, Phù Lưu nhưng xu thế của những người buôn 9 bán là không đầu tư tiền lãi vào việc phát triển nghề này mà khi có nhiều tiền lại mua thêm ruộng đất.
Cái căn tính nông dân đã không làm cho Bắc Bộ có những nhà buôn lớn. Nói đến trí thức bình dân là nói đến các nhà nho đi thi không đỗ hoặc là những người đã đỗ đạt nhưng chưa phải đại khoa, họ làm một chức quan nhỏ sau một thời gian vì những lý do nhất định lại trở về làng làm dân. Những người đó ta gọi là trí thức bình dân, bao gồm nhà nho chưa đi thi, nhà nho đi thi không đỗ và những viên quan nhỏ về hưu. Bốn kiểu người vừa nêu được sách vở phong kiến xếp vào loại dân, với trật tự ngược lại là sĩ, nông, công, thương.
Một trò diễn cổ truyền ở làng Tứ Xã (Phú Thọ) đã thể hiện các nhân vật này trong hội làng. Nói như trên tuy đã chi tiết nhưng chưa bao gồm hết những người được gọi là dân. Còn có các ngư dân, dân nghèo thành thị, các cô đào hát, anh kép hát, người xẩm mù, thậm chí cả các cô gái bán hoa và binh lính,… tất cả họ đều là dân. Văn học dân gian nói chung và truyện cười dân gian nói riêng là do những người trên sáng tác, lưu truyền.
Theo truyền thống, chúng ta nói tắt truyện cười dân gian là truyện cười. Thực ra còn có các truyện cười bác học, có tác giả. Tuy nhiên ở nước ta loại truyện này khá hiếm, chưa kể một số ít lại được dân gian hóa trở thành của dân. Từ khi người Pháp xâm lược nước ta đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngoài những người dân như trên, có thêm công nhân (đương thời gọi là cu li, thợ thuyền) làm việc trong các hầm mỏ, các đồn điền, trong các nhà máy (dệt, xi măng, diêm); trong khi các nhà nho bình dân ngày một ít đi, số lượng dân nghèo thành thị lại càng ngày càng tăng lên, bên cạnh một bộ phận dân mới là trí thức tân học (kiểu anh giáo Thứ của Nam Cao).
Trong thời Pháp thuộc, những người vừa nêu gọi là dân. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1954, thành phần dân có những chuyển biến khác. Trong vài chục năm hiện nay, cái gọi là dân rõ ràng khác xa so với dân thời quân chủ. Truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại "Thời gian qua, nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm: văn học dân gian cổ truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hóa dân gian cổ truyền, văn hóa cổ truyền) với ý nghĩa chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với 10 từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian hiện đại, văn hóa dân gian hiện đại, văn hóa hiện đại…).
Trong cách dùng này, cổ truyền là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước, hiện đại là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám (1945)” [6, 3]. Theo Nguyễn Xuân Kính, trong hai tập Văn học dân gian (xuất bản lần đầu 1972-1973), trong tập 1 (Văn học dân gian) của bộ Tinh tuyển văn học Việt Nam (xuất bản năm 2004), trong sách Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (xuất bản lần đầu 1984, với bút danh Trần Từ), Đinh Gia Khánh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Từ Chi đã sử dụng hai từ cổ truyền và hiện đại với cách hiểu nêu trên. Từ năm 1994 đến năm 2010, trong những tiết dạy chuyên đề Tiến trình văn hóa dân gian và khoa nghiên cứu văn hóa dân gian tại các lớp cao học thuộc cơ sở đào tạo Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (sau đổi thành Viện Nghiên cứu văn hóa), nhà giáo Nguyễn Xuân Kính sử dụng khái niệm văn hóa dân gian cổ truyền, văn hóa dân gian hiện đại với cách hiểu văn hóa dân gian cổ truyền là văn hóa dân gian được sáng tạo và lưu truyền từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Với văn hóa dân gian đương đại, ông coi đây là khái niệm chỉ những sáng tạo dân gian ra đời trong khoảng 15 đến 20 năm gần đây (tính từ thời điểm phát ngôn hai tiếng “gần đây”).
Tóm lại, văn học dân gian nói chung và truyện cười nói riêng được sáng tác và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám trở về trước được gọi là văn học dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian cổ truyền. Văn học dân gian từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay được gọi là văn học dân gian hiện đại. Văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền trong vài chục năm gần đây được gọi là văn học dân gian đương đại. Tóm lại, có truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại và truyện cười dân gian đương đại.
Truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười lẻ/ truyện cười độc lập Các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ,… là những hệ thống truyện xoay quanh một nhân vật chính là Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ. Các nhà nghiên cứu gọi đó là truyện cười kết chuỗi, trong đó mỗi một truyện như “Trời sinh ông Tú Cát”, “Dê đực chửa”… trong truyện Trạng Quỳnh có thể được kể độc lập. 11 Những truyện cười không nằm trong hệ thống truyện trạng vừa nêu được gọi là truyện cười độc lập hoặc truyện cười đơn lẻ. Tuy khác nhau về chi tiết, nhưng các tác giả Đinh Gia Khánh [7, 374-376], Lê Chí Quế [8, 138], Hoàng Tiến Tựu [9, 85-86], Nguyễn Bích Hà [10, 115-126], Nguyễn Việt Hùng [11, 154] đều xếp truyện cười kết chuỗi/ truyện trạng vào thể loại truyện cười (cùng với truyện cười không kết chuỗi/ đơn lẻ/ độc lập).
Đỗ Bình Trị thì khác, từ năm 1978 đến năm 1999, ông nhất quán xác định truyện trạng/ truyện cười kết chuỗi là một bộ phận của truyện cổ tích sinh hoạt trong thể loại truyện cổ tích [12, 116]. Các tác giả Trương Sĩ Hùng, Nguyễn Chí Bền, Mai Hương, Phạm Lan Oanh, Vũ Mai Hoàng,. [11, 154], Triều Nguyên [13] có xu hướng tách truyện trạng thành một thể loại riêng, bên cạnh thể loại truyện cười. Khi chủ trì bộ sách Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nguyễn Xuân Kính dùng biện pháp dung hòa: thống nhất với tác giả Nguyễn Chí Bền để các truyện cười độc lập vào tập 8, đề tên Truyện cười; để các truyện trạng vào tập 9, đề Truyện cười.
Phần truyện Trạng1. Chúng tôi nghĩ, tuy truyện trạng khác truyện cười đơn lẻ/ độc lập ở mỗi hệ thống truyện gồm nhiều truyện thành phần, có thể kể độc lập; nhân vật trung tâm không phải là đối tượng bị chế giễu, phê phán (Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ,…) nhưng cả hai bộ phận truyện cười lẻ/ độc lập và truyện cười kết chuỗi/ trạng đều giống nhau ở thủ pháp gây cười. Bởi vậy, khi bàn đến truyện cười cổ truyền, chúng tôi dành sự quan tâm cho các truyện cười lẻ/ độc lập/ không kết chuỗi, khi cần thiết mới liên hệ với truyện trạng/ truyện cười kết chuỗi. Truyện khôi hài, truyện tiếu lâm Truyện khôi hài cũng là truyện cười.
Nhưng khi nói đến truyện khôi hài người ta thường nghĩ đến tiếng cười nhẹ nhàng, ít khi là tiếng cười đả kích, châm biếm dữ dội. Về truyện tiếu lâm, theo nghĩa của từ thì tiếu lâm có nghĩa là rừng cười. Vậy truyện tiếu lâm có nghĩa là truyện cười. Các sưu tập truyện cười ở Trung Quốc đều gọi là truyện tiếu lâm, thí dụ Tiếu lâm quảng ký của Trung Quốc bản in đời Thanh [14, 1 Tư liệu phỏng vấn GS.TS Nguyễn Xuân Kính tại nhà riêng, tháng 12 năm 2022.
Các nhà nho của ta cũng hay dùng từ tiếu lâm trong tên sách, thí dụ Tiếu lâm tân truyện, khắc in năm Khải Định năm thứ nhất - 1916 [14, 539]. Song có một số người nghĩ và hiểu rằng những truyện tiếu lâm là những truyện có yếu tố tục, thậm chí rất tục. Những năm 1970 - 1971, khi sưu tầm văn học dân gian ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhà nghiên cứu văn học dân gian nổi tiếng Nguyễn Đổng Chi cho rằng: “Tiếu lâm nhiều lắm cũng chỉ là một yếu tố văn học”, nhưng khác với vè là nó không thành văn. Ông xác định đặt vè vào văn học còn được, nhưng e rằng sẽ là một sự cưỡng ép thực sự nếu đặt tiếu lâm vào văn học.
Sở dĩ Nguyễn Đổng Chi không chủ trương đặt truyện tiếu lâm vào văn học vì một trong những đặc điểm chủ yếu của tiếu lâm Việt Nam là yếu tố dâm tục.