Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Truyện cười ở các làng cười Bắc Bộ: Đặc điểm thi pháp và diễn xướng" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thùy thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2023), thuộc chuyên ngành Văn học Dân gian (mã số: 9.25), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Việt Hùng và PGS.TS Vũ Thị Tú Anh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong các thể loại tự sự dân gian, truyện cười mang đậm chất quần chúng và chất bình dân. Trong kho tàng văn học dân gian người Việt, truyện cười cổ truyền đã được sưu tầm và nghiên cứu với nhiều thành tựu; tuy nhiên, truyện ở các làng cười còn ít được sưu tầm và chưa được nghiên cứu nhiều. Trong khi 1013 truyện cười đơn lẻ trong tập 8 bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn quốc, truyện cười ở các làng cười vẫn còn tương đối xa lạ với đa số người dân. Mặt khác, trong khi hình thức diễn xướng của truyện cười cổ truyền đã lùi vào quá khứ, tính diễn xướng và các hình thức diễn xướng ở một số làng cười vẫn còn tồn tại trong đời sống thực tế. Để phân biệt truyện cười cổ truyền phổ biến và truyện cười ở các làng cười, luận án tập trung khảo sát hai phương diện cốt lõi: thi pháp thể loại và hình thức diễn xướng.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:
- Nêu được đặc điểm thi pháp truyện cười ở các làng cười;
- Phân tích hình thức diễn xướng truyện cười ở các làng cười.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Sưu tầm bổ sung truyện ở một làng cười mà chủ thể không làm nông nghiệp, cụ thể là làng Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng;
- Tập hợp một số lượng đủ các truyện cười ở các làng cười, có tính đại diện cho truyện làng cười ở Bắc Bộ;
- Phân tích thi pháp truyện cười ở các làng cười đã được tập hợp ở nhiệm vụ thứ hai;
- So sánh thi pháp truyện cười ở các làng cười với thi pháp truyện cười cổ truyền phổ biến, được lưu hành sớm và rộng rãi trong phạm vi toàn quốc;
- Trình bày diễn biến của hướng nghiên cứu diễn xướng/trình diễn trong bối cảnh ở nước ngoài và Việt Nam;
- Phân tích các hình thức diễn xướng của truyện cười ở các làng cười.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, luận án khảo sát truyện cười ở các làng cười trên phương diện thi pháp và diễn xướng. Dựa trên kinh nghiệm chọn mẫu của nhà nghiên cứu V. Propp, tác giả lựa chọn khảo sát 5 làng cười đại diện cho các vùng cảnh quan địa lý và phương thức sáng tạo nghệ thuật ở Bắc Bộ:
- Làng Trúc Ổ (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh): đại diện vùng đồng bằng, có nghề câu cuốn, truyện cười giàu tính đại ngôn và lý sự;
- Làng Hòa Làng và làng Dương Sơn (tỉnh Bắc Giang): đại diện vùng trung du, miền núi, có truyền thống nói phét nổi tiếng trong ca dao; riêng Dương Sơn có truyền thống Nho học, có "Dương Sơn hội quán" và nghệ nhân Nguyễn Tam;
- Làng Văn Lang (tỉnh Phú Thọ): đại diện vùng đất Tổ trung du miền núi phía Bắc;
- Làng Trân Châu (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng): đại diện làng cười vùng biển đảo của ngư dân.
Tổng số ngữ liệu khảo sát của luận án là 299 truyện cười (gồm 246 truyện đã xuất bản và 53 truyện do tác giả trực tiếp sưu tầm điền dã từ năm 2017 đến năm 2022). Nguồn truyện đã xuất bản được lấy từ công trình Truyện làng cười xứ Bắc (1988) của Trần Quốc Thịnh và Làng cười Văn Lang (2011) của Trần Văn Thục. Đối tượng ngữ liệu so sánh là 1013 truyện cười cổ truyền độc lập trong tập 8 Truyện cười thuộc Tổng tập văn học dân gian người Việt do Nguyễn Chí Bền chủ biên. Phạm vi thời gian của các truyện khảo sát là các sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến giai đoạn gần đây.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án điểm lại chi tiết lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười qua các thời kỳ:
Về lịch sử sưu tầm truyện cười cổ truyền:
- Thư tịch Hán Nôm cuối thế kỷ XVIII và XIX có: Công dư tiệp ký tiền biên của Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký tục biên của Trần Quý Nha (18 truyện có yếu tố gây cười), Sơn cư tạp thuật của Đan Sơn (2 truyện), Vân nang tiểu sử của Phạm Đình Dục (6 truyện).
- Sách chữ quốc ngữ thời kỳ đầu: Chuyện đời xưa lựa nhón những chuyện hay và có ích (1866) và Chuyện khôi hài (1882) của Trương Vĩnh Ký (ghi chép 112 truyện dân gian, trong đó có 78 truyện cười); Chuyện giải buồn (1895) của Huỳnh Tịnh Của.
- Sách tiếng Pháp: Contes et légendes annamites (1886) của A. Landes (22 truyện).
- Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945: Tiếu lâm tân truyện (chữ Nôm, 1916, 37 truyện); Đối cổ kỳ quan của Đặng Lễ Nghi (1910); Tiếu lâm của Phụng Hoàng Sang (1912); Chuyện khôi hài của Trần Phong Sắc (1913, 2 tập, 164 truyện); Khôi hài của Hàn Khanh (1913, 2 quyển, 32 truyện); Chuyện góp của Nguyễn Ngọc (1913); Truyện tiếu đàm của Phụng Hoàng Sang và Dương Diếp (1914, 50 truyện); Khôi hài thú vị của Trần Văn Tý (1915); bộ ba cuốn Tiếu lâm An Nam của Thọ An Phạm Duy Tốn (1918-1924); Góp cười truyện thế của Trần Trung Viên (1921); Tân tiếu lâm của Lạc Sinh (1925); Chuyện vui của nhà in Tiếng Dân (1929); Chuyện vui của Huỳnh Khắc Trường (1932); Chuyện tiếu lâm của nhà in Phạm Văn Thình (1932); Truyện cổ nước Nam của Nguyễn Văn Ngọc (1932); Tiếu lâm Việt Nam của Đồ Nam (1949); Chuyện tiếu lâm và cổ tích của Công Thành (1950); Tân tiếu lâm, Lò Léc da du I của Lạc Sinh (1952).
- Giai đoạn 1954-1975: Ở miền Bắc có Truyện tiếu lâm Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (1957, 148 truyện); Tiếng cười Việt Nam của Văn Tân (1957, 28 truyện tiếu lâm và 17 truyện khôi hài); Kho cười của Zuy Nhất, Tùng Giang (1957); Truyện cười dân gian Việt Nam của nhóm Nguyễn Hồng Phong, Trương Chính, Đỗ Thiện, Đặng Việt Thanh, Hoàng Tuấn Phổ (1964). Ở miền Nam có Cổ tích nực cười của Nguyễn Quỳnh (1957); 101 chuyện cấm cười của Tú Xe (1963); Chuyện cấm đàn bà của Đặng Trần Huân (1969); Chuyện cười cổ nhân của Vương Hồng Sển (1971).
- Giai đoạn sau 1975: Tiếng cười dân gian Việt Nam của Trương Chính và Phong Châu (1979, 230 truyện); Truyện cười dân gian Việt Nam (tập 1, 1985) của Minh Tâm, Nguyễn Xuân Kính, Tăng Kim Ngân; Truyện cười dân gian Việt Nam của Trương Chính (1985); Nụ cười kháng chiến (1986); Sợ vợ chết cứng của Hội Văn nghệ Bắc Thái (1988); Đặt lờ trên cây của Nguyễn Hữu Ái (1988); Tuyển tập tiếng cười thế giới (tập 1, 1988) do Nguyễn Đức Dân chủ biên; Truyện cười dân gian Nam Bộ của Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh (1989); Gánh bưởi qua sông của Ninh Viết Giao (1992); 101 truyện cười dân gian Việt Nam của Kinh Bắc (1992); Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam của Nguyễn Cừ, Phan Trọng Thưởng (1993); Cười của Ngọc Chi (1994); Truyện tiếu lâm Việt Nam và Kho tàng truyện cười Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (1995); Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam của Phạm Trường Tam (1999); các tuyển tập của Thi Long, Quế Chi (2001). Tập đại thành là bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt do Nguyễn Chí Bền chủ biên gồm tập 8 (1013 truyện cười cổ truyền lẻ, 395 truyện làng cười) và tập 9 (18 tập truyện trạng).
Về lịch sử sưu tầm truyện cười ở các làng cười:
Khởi đầu muộn hơn truyện cười cổ truyền, gồm có: Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng của Võ Xuân Trang (1984, 31 truyện); Bứt lầm đuôi cọp của Nguyễn Huy (1987, 19 truyện làng Vĩnh Hoàng); Truyện làng cười xứ Bắc của Trần Quốc Thịnh (1988, 241 truyện); Truyện cười Văn Lang của Dương Huy Thiện (1994, 47 truyện); Tuyển tập truyện tiếu lâm xứ Bắc (1997) và Những làng cười Việt Nam (1998) của Trần Quốc Thịnh; Làng cười Văn Lang của Hữu Thục và Dương Huy Thiện (2006, 180 truyện).
Về lịch sử nghiên cứu truyện cười:
- Nghiên cứu truyện cười cổ truyền: Tiểu luận "Ý nghĩa nhân sinh trong truyện cười nước ta ngày xưa" của Đặng Thai Mai (1943); công trình nghiên cứu hệ thống của Nguyễn Hồng Phong (1957); hệ thống giáo trình đại học của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1962, 1972-1973), Võ Quang Nhơn (1983), Lê Chí Quế (1990), Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu (1990-1991), Nguyễn Bích Hà (2008), Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Việt Hùng (2012, 2016), Phạm Thu Yến. Các nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật và thi pháp gồm: Đỗ Bình Trị (1999), Triều Nguyên (2011), Nguyễn An Tiêm (2015), Kiều Thu Hoạch (vấn đề nguồn gốc và bản chất thể loại), Đỗ Lai Thúy (tâm lý song mã Trạng Quỳnh và Trạng Lợn).
- Nghiên cứu truyện cười ở các làng cười: Nghiêm Đa Văn (1984) khảo sát bước đầu 3 làng cười Bắc Ninh (Đồng Sài, Đông An, Yên Từ); Nguyễn Đình Bưu và Trần Quốc Thịnh (1985) nghiên cứu làng cười Hà Bắc gắn với môi trường văn hóa lịch sử làng; Đỗ Bình Trị (1988); Kiều Thu Hoạch (1999); Nguyễn Huy Bỉnh (2010, 2015) phân tích nghệ thuật chơi chữ, phóng đại trong truyện làng cười xứ Bắc; Nguyễn Việt Hùng (2012) đưa làng cười vào giáo trình đại học.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình nào sưu tầm và nghiên cứu truyện cười của làng ngư nghiệp (chủ thể ngư dân miền biển đảo); chưa có công trình nào tiến hành so sánh hệ thống, toàn diện về mặt thi pháp giữa truyện cười ở các làng cười với 1013 truyện cười cổ truyền độc lập; chưa có công trình phân tích chuyên sâu về các hình thức diễn xướng thực địa của truyện cười tại các làng cười trong mối liên hệ với lý thuyết bối cảnh văn hóa dân gian.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các khái niệm và cơ sở lý thuyết chuyên ngành sau:
- Khái niệm văn học dân gian cổ truyền, hiện đại, đương đại: Tiếp thu quan điểm của Đinh Gia Khánh, Kiều Thu Hoạch, Trần Từ (Nguyễn Từ Chi) và Nguyễn Xuân Kính, xác định văn học dân gian cổ truyền ra đời và lưu truyền từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; văn học dân gian hiện đại tính từ sau năm 1945; văn học dân gian đương đại chỉ các sáng tạo trong khoảng 15-20 năm gần đây.
- Phân loại truyện cười: Phân biệt giữa truyện cười kết chuỗi/truyện trạng (Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ...) và truyện cười lẻ/độc lập; phân biệt truyện khôi hài (tiếng cười nhẹ nhàng, mua vui) và truyện tiếu lâm (rừng cười, trong đó thảo luận quan điểm của Nguyễn Đổng Chi về yếu tố tục so với quan điểm tiếp cận toàn diện của Nguyễn Xuân Kính, Tô Hoài).
- Khái niệm thi pháp và thi pháp học: Tiếp thu định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử chủ biên) và quan điểm của Đinh Gia Khánh, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Nguyễn An Tiêm, Triều Nguyên: thi pháp truyện cười chính là hệ thống nghệ thuật gây cười và các thủ pháp nghệ thuật thể hiện.
- Khái niệm diễn xướng: Điểm lại quan điểm của Đặng Văn Lung (1977), Nguyễn Khắc Xương (1986), Kiều Trung Sơn (2012), Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, cùng các mô tả diễn xướng sử thi thực tế của Tô Ngọc Thanh, Đỗ Hồng Kỳ. Tác giả luận án đưa ra định nghĩa thao tác: Diễn xướng là việc truyền miệng tác phẩm văn học dân gian (tách văn bản ngôn từ ra khỏi trí nhớ nghệ nhân và trang sách); các yếu tố động tác phụ họa, trang phục, giao lưu với người nghe là những yếu tố đi kèm tùy từng trường hợp cụ thể.
- Hướng tiếp cận bối cảnh trong folklore học (Contextual approach / Performance theory) khởi xướng từ Hoa Kỳ và việc vận dụng tại Việt Nam.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp tập hợp tài liệu đã xuất bản: Thu thập, giám định văn bản từ các sưu tập truyện cười cổ truyền và truyện làng cười.
- Phương pháp tổng hợp (tiến triển - méthode progressive theo Đinh Gia Khánh): Đi từ các thành tố, chi tiết để xây dựng lại chỉnh thể tác phẩm và mối liên hệ với môi trường văn hóa xã hội.
- Phương pháp phân tích (thoái triển - méthode régressive theo Đinh Gia Khánh): Đi từ tổng thể ngược về các yếu tố ban đầu để khảo sát cấu trúc và nội dung tác phẩm.
- Phương pháp thống kê (theo Nguyễn Xuân Kính): Thẩm định và thống kê định lượng tần suất xuất hiện các thủ pháp nghệ thuật (phóng đại, yếu tố tục) để rút ra kết luận khoa học.
- Phương pháp so sánh: So sánh thi pháp truyện kể ở 5 làng cười với 1013 truyện cười cổ truyền độc lập để làm rõ tính tương đồng và dị biệt.
- Phương pháp nghiên cứu ngữ văn dân gian: Phân tích văn bản qua các yếu tố kết cấu, bố cục, thủ pháp, thể loại, văn vần.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Trực tiếp quan sát, ghi chép, phỏng vấn, ghi âm tại làng Trân Châu, Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, Văn Lang; thực hiện quy tắc đạo đức khoa học bằng cách đổi tên những người cung cấp tư liệu.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp GS.TS Nguyễn Xuân Kính, GS.TS Vũ Anh Tuấn và nhà nghiên cứu Trần Quốc Thịnh.
Nguồn tư liệu/dữ liệu: Luận án sử dụng 299 truyện cười tại 5 làng cười Bắc Bộ (246 truyện đã xuất bản trong công trình của Trần Quốc Thịnh và Trần Văn Thục; 53 truyện do tác giả sưu tầm mới) và 1013 truyện cười cổ truyền độc lập trong tập 8 bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (sau khi đã thẩm định và loại bỏ 16 truyện hiện đại hoặc không gây cười từ 1029 truyện ban đầu).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỆN CƯỜI
Chương 1 tập trung giải quyết ba nội dung lớn: xác lập hệ thống khái niệm công cụ, phác họa bức tranh văn hóa - xã hội làng xã cổ truyền Bắc Bộ và tổng thuật lịch sử sưu tầm, nghiên cứu.
Về khái niệm, chương này làm rõ các định nghĩa: truyện cười dân gian, truyện cười cổ truyền - hiện đại - đương đại, truyện trạng/kết chuỗi và truyện lẻ/độc lập, truyện khôi hài và truyện tiếu lâm, truyện cười ở các làng cười, thi pháp và diễn xướng.
Về bối cảnh làng xã cổ truyền Bắc Bộ:
- Bắc Bộ là vùng văn hóa tiêu biểu (phân tích sự phân chia vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh với 7 vùng, Đinh Gia Khánh với 9 vùng, Chu Xuân Diên với 6 vùng).
- Làng xã là tế bào của vùng văn hóa. Dẫn chứng tư liệu của Nguyễn Từ Chi và số liệu của Nguyễn Tùng: ở Bắc Ninh trước năm 1945 có 74,18% xã thuộc dạng "nhất xã nhất thôn", ở Cẩm Giàng (Hải Dương) là 58,7%.
- Đặc trưng làng Việt Bắc Bộ: Cấu trúc không gian có cổng làng, lũy tre, đình, chùa, giếng nước; cơ cấu kinh tế là "biển tiểu nông tư hữu" với các thành phần địa chủ, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông và ông đồ; tổ chức cộng đồng theo địa vực (ngõ, xóm), huyết thống (dòng họ), lứa tuổi (giáp), chính quyền (lý trưởng, hội đồng kỳ mục) và hội phường (hội tư văn, tư cấp, hội võ, phường nghề).
- Đời sống tinh thần: Trước năm 1945, khoảng 90% nông dân mù chữ; sinh hoạt văn hóa dân gian truyền miệng giữ vai trò chủ đạo qua hát ru, kể chuyện đêm đông, hội làng và các loại hình nghệ thuật diễn xướng như chèo, tuồng, rối nước, hát dậm, hát xoan, hát ghẹo, hát trống quân, hát đúm.
Về các làng cười Bắc Bộ: Luận án chỉ ra trên phạm vi toàn quốc có 16 làng cười được tập hợp trong Tổng tập (năm 2005), trong đó 15 làng thuộc Bắc Bộ (Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ) và chỉ có 1 làng thuộc Trung Bộ (làng Vĩnh Hoàng, Quảng Trị). Các làng cười đều ra đời từ bối cảnh kinh tế nghèo khó, thể hiện tinh thần lạc quan và khát vọng sống của cư dân nông nghiệp và ngư nghiệp.
Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng và nguồn ngữ liệu tại 5 làng cười được luận án lựa chọn nghiên cứu:
| STT |
Tên làng cười |
Địa bàn hành chính |
Vùng sinh thái / Đặc điểm |
Đã xuất bản (SL) |
Sưu tầm mới (SL) |
Tổng số truyện (SL) |
| 1 |
Văn Lang |
Huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ |
Trung du miền núi (đất Tổ) |
180 |
0 |
180 |
| 2 |
Hòa Làng |
Tỉnh Bắc Giang |
Trung du miền núi |
26 |
14 |
40 |
| 3 |
Dương Sơn |
Tỉnh Bắc Giang |
Trung du miền núi (có truyền thống Nho học) |
26 |
13 |
39 |
| 4 |
Trúc Ổ |
Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh |
Đồng bằng (nghề câu cuốn) |
14 |
6 |
20 |
| 5 |
Trân Châu |
Huyện đảo Cát Hải, TP. Hải Phòng |
Vùng biển đảo (ngư dân) |
0 |
20 |
20 |
| Tổng |
5 làng cười |
Bắc Bộ |
Đồng bằng, trung du, biển đảo |
246 |
53 |
299 |
Phần cuối chương 1 trình bày chi tiết lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười từ thế kỷ XVIII đến nay, khẳng định việc khảo sát thi pháp và diễn xướng truyện làng cười là hướng đi cần thiết để bổ sung vào diện mạo văn học dân gian.
CHƯƠNG 2: THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI
Chương 2 thực hiện phân tích thi pháp học đối với 299 truyện cười tại 5 làng cười Bắc Bộ và đặt trong mối tương quan so sánh với 1013 truyện cười cổ truyền độc lập.
Các điểm tương đồng về mặt thi pháp giữa truyện làng cười và truyện cười cổ truyền:
- Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp: Sử dụng khẩu ngữ, tiếng lóng, tiếng địa phương, nghệ thuật chơi chữ, cách nói lái, nói nước đôi.
- Thủ pháp kết thúc bất ngờ: Tạo nút thắt và mở nút đột ngột ở câu kết, đảo lộn dự đoán của người nghe để bật ra tiếng cười.
- Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn: Xây dựng xung đột giữa bản chất và hiện tượng, giữa lời nói và hành động.
- Thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi: Tạo nhịp điệu, tăng tính biểu cảm và hỗ trợ trí nhớ truyền miệng của nghệ nhân.
- Thủ pháp phóng đại: Cường điệu kích thước, tính chất của sự vật, hiện tượng (con cá, củ khoai, ngôi nhà, năng suất lao động).
- Thủ pháp sử dụng yếu tố tục: Khai thác các yếu tố giải phẫu cơ thể, bài tiết, sinh lý nhằm giải tỏa căng thẳng trong lao động và mua vui.
- Sự phối hợp linh hoạt nhiều thủ pháp trong cùng một tác phẩm.
Bảng thống kê tỷ lệ sử dụng thủ pháp phóng đại và thủ pháp sử dụng yếu tố tục tại 5 làng cười khảo sát:
| Làng cười |
Tổng số truyện (SL) |
Sử dụng thủ pháp phóng đại (SL) |
Tỷ lệ phóng đại (%) |
Sử dụng thủ pháp yếu tố tục (SL) |
Tỷ lệ yếu tố tục (%) |
| Dương Sơn |
39 |
23 |
58,9% |
0 |
0,0% |
| Trân Châu |
20 |
8 |
40,0% |
1 |
5,0% |
| Văn Lang |
180 |
62 |
34,4% |
51 |
28,3% |
| Hòa Làng |
40 |
10 |
25,0% |
0 |
0,0% |
| Trúc Ổ |
20 |
2 |
10,0% |
0 |
0,0% |
| Tổng cộng |
299 |
105 |
35,1% |
52 |
17,4% |
Các điểm khác biệt căn bản về mặt thi pháp giữa truyện làng cười và truyện cười cổ truyền:
- Ngôi kể chuyện: Chỉ có truyện cười ở các làng cười mới để người kể chuyện ở ngôi thứ nhất ("tôi", "ông nội tôi", "bố tôi", người kể tự xưng và trực tiếp tham gia vào câu chuyện). Trong truyện cười cổ truyền phổ biến, ngôi kể luôn là ngôi thứ ba khách quan.
- Sự vắng mặt của các thủ pháp truyền thống: Truyện cười ở các làng cười hầu như hoặc rất ít khi sử dụng thủ pháp "gậy ông đập lưng ông" và thủ pháp "bắt chước không thành công" (vốn là hai thủ pháp chiếm tỷ lệ lớn trong truyện cười cổ truyền châm biếm).
- Khác nhau về tính chất và mức độ: Cùng sử dụng thủ pháp phóng đại, nói khoác nhưng truyện làng cười gắn chặt với cá tính địa phương, sản vật cụ thể của làng và không nhằm mục đích đả kích giai cấp hay hạ nhục đối tượng, mà chủ yếu phục vụ nhu cầu tự trào, trêu đùa, thi tài khẩu khí và mua vui sinh hoạt.
CHƯƠNG 3: TỪ TRÀO LƯU BỐI CẢNH Ở HOA KỲ ĐẾN VIỆC DIỄN XƯỚNG Ở CÁC LÀNG CƯỜI
Chương 3 trình bày cơ sở lý luận của hướng tiếp cận bối cảnh (Contextual approach / Performance theory) trong nghiên cứu folklore của các học giả Hoa Kỳ và quá trình vận dụng vào nghiên cứu folklore tại Việt Nam; từ đó đi sâu khảo sát thực tế diễn xướng truyện cười ở 5 làng cười Bắc Bộ.
Nội dung khảo sát thực địa và phân tích diễn xướng:
- Báo cáo quá trình sưu tầm điền dã dân tộc học tại 5 làng: Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, Văn Lang và Trân Châu.
- Phân tích các không gian và môi trường diễn xướng:
- Diễn xướng trong lao động: Trên đồng ruộng (cấy lúa, tát nước, làm cỏ), trên thuyền chài khi đi biển (làng Trân Châu), lúc nông nhàn.
- Diễn xướng trong sinh hoạt đời thường: Tại quán nước đầu làng, sân đình, điếm tuần, nhà riêng bên ấm trà, bàn rượu.
- Diễn xướng trong các dịp lễ hội, hội thi: Hội làng, các cuộc thi tài nói khoác, nói tức giữa các cá nhân hoặc giữa các xóm, các làng lân cận (như cặp đôi làng cười Hòa Làng - Dương Sơn).
- Đặc điểm nghệ thuật diễn xướng: Người kể chuyện sử dụng ngôn từ kết hợp giọng điệu, nét mặt, ánh mắt, ngữ điệu ngắt nghỉ tạo bất ngờ; sự tương tác trực tiếp, đối đáp tức thì giữa người kể và người nghe (cộng đồng diễn xướng).
Chương 3 rút ra nhận xét: Diễn xướng là phương thức tồn tại đích thực của truyện cười làng cười; việc tách rời văn bản truyện cười ra khỏi bối cảnh diễn xướng sinh hoạt làng xã sẽ làm mất đi phần lớn giá trị thẩm mỹ và sắc thái hài hước vốn có của tác phẩm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
- Về mặt tư liệu và thực tiễn: Luận án đã sưu tầm mới 53 truyện cười chưa từng được công bố, bao gồm: 20 truyện ở làng Trân Châu (thành phố Hải Phòng), 14 truyện ở làng Hòa Làng (tỉnh Bắc Giang), 13 truyện ở làng Dương Sơn (tỉnh Bắc Giang), và 6 truyện ở làng Trúc Ổ (tỉnh Bắc Ninh). Đóng góp đáng chú ý là việc bổ sung 20 truyện cười của làng Trân Châu - sưu tập truyện cười đầu tiên của một làng ngư nghiệp ven biển đảo, bổ sung diện mạo cho mảng truyện cười làng cười vốn trước đây chỉ tập trung ở vùng nông nghiệp đồng bằng và trung du.
- Về mặt lý luận và thi pháp học: Luận án nhận diện và làm sáng tỏ hệ thống đặc điểm thi pháp của truyện cười ở các làng cười; chỉ ra các nét tương đồng và đặc biệt là những nét dị biệt so với truyện cười cổ truyền phổ biến (ngôi kể thứ nhất; sự vắng bóng của thủ pháp gậy ông đập lưng ông và bắt chước không thành công; sự khác biệt về mức độ, tính chất của thủ pháp phóng đại và yếu tố tục).
- Về mặt tiếp cận phương pháp luận: Luận án tiếp thu, giải thích lý do ra đời của khuynh hướng tiếp cận bối cảnh/diễn xướng (Performance theory) trong folklore học Hoa Kỳ và vận dụng vào việc phân tích hình thức diễn xướng sống của truyện kể tại 5 làng cười Bắc Bộ.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất tiếp tục công tác điền dã sưu tầm truyện cười tại các làng cười còn lại trên cả nước; cần có phương án bảo tồn các hình thức diễn xướng dân gian trong không gian văn hóa làng xã truyền thống trước tác động của đô thị hóa; đưa các tác phẩm truyện cười làng cười tiêu biểu vào giảng dạy, nghiên cứu văn học dân gian ở các bậc học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án:
- Hạn chế: Do điều kiện thời gian và nguồn lực nghiên cứu, luận án chỉ khảo sát chuyên sâu 5 làng cười đại diện tại Bắc Bộ trong tổng số 16 làng cười đã được ghi nhận trên toàn quốc; số lượng truyện sưu tầm mới ở một số làng (như Trúc Ổ với 6 truyện) còn tương đối khiêm tốn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điền dã sang các làng cười khác ở Bắc Bộ (như Can Vũ, Cua, Đông An, Nội Hoàng, Tiên Lục...) và làng cười miền Trung (làng Vĩnh Hoàng, Quảng Trị); đẩy mạnh nghiên cứu so sánh liên ngành giữa thi pháp học, nhân học văn hóa và xã hội học nông thôn đối với hiện tượng làng cười.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Dân gian, Văn học Việt Nam, Văn hóa học, Nhân học và Ngữ văn tại các trường đại học sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về thi pháp thể loại tự sự dân gian và phương pháp tiếp cận bối cảnh diễn xướng.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, cán bộ sưu tầm folklore: Cung cấp 53 văn bản truyện cười sưu tầm mới kèm xuất xứ địa bàn; cung cấp quy trình và kinh nghiệm điền dã dân tộc học tại các làng quê đồng bằng, trung du và hải đảo.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án:
- Hệ thống tư liệu 53 truyện cười mới sưu tầm tại phụ lục;
- Phần so sánh định tính và số liệu định lượng về thi pháp giữa truyện làng cười và 1013 truyện cười cổ truyền ở chương 2;
- Phần tổng thuật lý thuyết bối cảnh và khảo sát diễn xướng thực địa ở chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn khảo sát ngữ liệu tại những làng cười nào và tổng số tác phẩm là bao nhiêu?
Luận án khảo sát 5 làng cười tại Bắc Bộ gồm: Văn Lang (Phú Thọ), Hòa Làng (Bắc Giang), Dương Sơn (Bắc Giang), Trúc Ổ (Bắc Ninh) và Trân Châu (Cát Hải, Hải Phòng). Tổng số ngữ liệu khảo sát là 299 truyện (gồm 246 truyện đã xuất bản và 53 truyện do tác giả trực tiếp sưu tầm điền dã).
2. Điểm khác biệt căn bản về mặt thi pháp giữa truyện cười ở các làng cười và truyện cười cổ truyền độc lập là gì?
Luận án chỉ ra ba điểm khác biệt chính:
- Chỉ có truyện cười ở các làng cười mới sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất;
- Truyện cười ở các làng cười hầu như hoặc rất ít khi sử dụng thủ pháp "gậy ông đập lưng ông" và "bắt chước không thành công";
- Tính chất và mức độ sử dụng các thủ pháp (như phóng đại, nói khoác) ở làng cười mang tính mua vui, tự trào gắn với địa danh, sản vật cụ thể chứ không mang tính chất đả kích xã hội như truyện cười cổ truyền.
3. Tỷ lệ sử dụng thủ pháp phóng đại và yếu tố tục tại các làng cười được luận án thống kê cụ thể ra sao?
- Thủ pháp phóng đại chiếm 105/299 truyện (35,1%), trong đó cao nhất là làng Dương Sơn (23/39 truyện, chiếm 58,9%), tiếp theo là Trân Châu (40,0%), Văn Lang (34,4%), Hòa Làng (25,0%), thấp nhất là Trúc Ổ (10,0%).
- Thủ pháp sử dụng yếu tố tục chiếm 52/299 truyện (17,4%), chỉ xuất hiện ở 2 làng là Văn Lang (51/180 truyện) và Trân Châu (1/20 truyện); 3 làng Hòa Làng, Dương Sơn, Trúc Ổ không ghi nhận truyện có yếu tố tục.
4. Vì sao tác giả luận án lựa chọn sưu tầm bổ sung truyện cười tại làng Trân Châu (Cát Hải, Hải Phòng)?
Vì làng Trân Châu là một làng chài thuộc huyện đảo Cát Hải, có chủ thể sáng tạo là ngư dân miền biển. Trước thời điểm thực hiện luận án, chưa có bất kỳ sưu tập truyện cười của một làng ngư nghiệp nào được xuất bản; việc bổ sung truyện làng Trân Châu giúp diện mạo truyện cười làng cười có thêm tiếng cười của cư dân vùng biển "ăn sóng nói gió" bên cạnh cư dân nông nghiệp đồng bằng và trung du.
5. Tác giả luận án đưa ra định nghĩa thao tác về "diễn xướng" trong văn học dân gian như thế nào?
Tác giả luận án định nghĩa: Diễn xướng là việc truyền miệng tác phẩm văn học dân gian (như nói tục ngữ, hát hò dân ca, hát kể sử thi, trình diễn trò chơi có lời, biểu diễn tích chèo). Yếu tố cốt lõi đầu tiên của diễn xướng là tách văn bản ngôn từ ra khỏi trí nhớ nghệ nhân và trang sách; còn các yếu tố động tác phụ họa, trang phục hay giao lưu với người nghe là những yếu tố tùy thuộc vào từng trường hợp và thể loại cụ thể.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thùy là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về truyện cười tại 5 làng cười tiêu biểu ở Bắc Bộ trên hai bình diện thi pháp thể loại và diễn xướng văn hóa dân gian. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích ngữ văn, thống kê định lượng, so sánh đối chiếu với 1013 truyện cười cổ truyền và điền dã thực địa, tác giả đã làm rõ các quy luật thi pháp đặc thù cũng như phương thức diễn xướng sống của truyện làng cười. Công trình đóng góp cho ngành Văn học Dân gian 53 tư liệu truyện cười sưu tầm mới (trong đó có mảng truyện cười làng chài hải đảo) và cung cấp cứ liệu khoa học về mối quan hệ giữa văn bản tác phẩm và bối cảnh sinh hoạt làng xã cổ truyền.