Chương 1. Khái quát chung về tam giáo Chương 2. Ảnh hƣởng và tiếp thu Nho giáo trong Truyện Kiều Chương 3. Ảnh hƣởng và tiếp thu Phật giáo, Đạo giáo trong Truyện Kiều 16 Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TAM GIÁO 1. Khái quát quá trình thâm nhập của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam và ảnh hƣởng tới văn học 1. Quá trình thâm nhập và ảnh hưởng của Nho giáo Theo Trần Đình Hượu, Việt Nam cũng như một số nước châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên trong một thời gian dài đã xem Nho giáo là ý thức hệ chính thống của mình. Chính vì thế, Nho giáo chi phối hầu như toàn bộ các phương diện của đời sống, trong đó có văn học nghệ thuật.
Trong văn học, ý thức hệ Nho giáo hình thành một loại hình tác giả và loại hình tác phẩm với những tiêu chuẩn thi pháp chung. Nho giáo xác định cho văn học nghệ thuật những vai trò xã hội nhất định, tạo ra trong xã hội một đời sống văn học nhất định, đồng thời quy định hướng phát triển của văn học nghệ thuật trong xã hội và vận mệnh của nó trong lịch sử. Nho giáo là một học thuyết đề cao người đi học, việc học tập, sự nghiệp giáo dục, sùng thượng văn hiến, lễ, nhạc, trân trọng thơ ca, âm nhạc. Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (1027 đến 771 TCN), đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công.
Ông có công giúp Chu Vũ Vương (Cơ Pháp) lập ra nhà Chu (1122-256 TCN). Chu Công Đán đề cao thuyết thiên mệnh: Thượng đế (vua trời) chỉ huy mọi vật, giúp vua nhà Chu (Thiên tử - con trời) cai trị dân. “Kính trời yêu dân” (Kính thiên bảo dân); “Dân muốn thì trời sẽ theo” (Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi). Về nhân sinh quan, Chu Công Đán lập ra lễ để cúng tế trời đất, tổ tiên, lập ra Hình để cai trị dân (lẽ không xuống đến dân thường, hình không đến quan đại phu).
Khổng Tử (551-480 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người được coi là sáng lập Nho giáo, kế thừa và phát triển học thuyết chính trị của Chu Công. Ông là người ham học hỏi, say mê tìm kiếm thư tịch, lễ nhạc, thơ ca thời Ân Chu. Khổng Tử sinh ra ở nước Lỗ, quê hương của Chu Công, là nơi được ban bản đồ và các thư tịch, được dùng lễ nhạc chỉ dành riêng cho thiên tử. Khi 17 kinh đô nhà Chu bị các dị tộc tàn phá vào thời Xuân Thu, nước Lỗ là trung tâm văn hóa.
Do say mê lễ nhạc, lớn lên lại có điều kiện học tập và có tài trí hơn người, Khổng Tử nổi tiếng uyên bác và có hàng trăm đệ tử xung quanh có cùng sở thích ham mê sách vở, lễ nhạc như ông. Ông đã dành hơn nửa đời mình để sưu tầm, chỉnh lý các tài liệu thư tịch cổ, các bài dân ca, nhạc, lễ, phong tục mà soạn thành ngũ kinh: Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Xuân Thu. Sau Khổng Tử, Nho giáo chia làm hai phái: Tuân Tử và Mạnh Tử. Tuân Tử (313-235 TCN), cũng gọi là Huống, còn có tên là Khanh, người cuối thời Chiến quốc, kế thừa, phát triển học thuyết Khổng Tử, có điểm khác Khổng Tử, như quan niệm “Nhân chi sơ tính bản ác”, đề cao “thiện phụ dân” - dựa vào sức mạnh của dân.
Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy (còn gọi là Nho giáo tiên Tần). Từ đây mới hình thành khái niệm Nho giáo, nhà Nho (Nho giáo mang tính tôn giáo, còn Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nha học); Mạnh tử được tôn là Á thánh.