CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY CHÈ 1. Nguồn gốc và phân loại của cây chè Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis (L) O.
Kumtze và thuộc hệ thống phân loại như sau: Ngành: Hạt kín (Angiospermae) Lớp: Song tử diệp (Dicotyledonae) Bộ: Chè (Theaseae) Họ: Chè (Theaceae) Chi: Chè (Camelia hoặc Thea) Loài: Camellia sinensis Cây chè là một loại cây công nghiệp lâu năm, cho hiệu quả kinh tế cao, được trồng ở hơn 58 quốc gia. Ngày nay, ở Việt Nam hầu hết các tỉnh có điều kiện thuận lợi đều trồng chè, song ba vùng trồng nhiều nhất là [33]: • Vùng chè thượng du (Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Yên Bái) chiếm khoảng 25% sản lượng chè miền Bắc. • Vùng trung du (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên). Đây là vùng chè chủ yếu chiếm đến 75% sản lượng chè miền Bắc với nhiều nhà máy sản xuất lớn.
• Vùng chè Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắc Lắc) chủ yếu trồng giống chè Ấn Độ và chè shan, chè Ô long. Những công trình nghiên cứu của Đjêmukhatze (1961 - 1976) về phức catechins của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechins giữa các loại chè được trồng và chè mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè. Đjêmukhatze kết luận rằng: những cây chè mọc hoang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 dại, tổng hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat, ở chúng phát triển chậm khả năng tổng hợp (-) epigalo catechin và các galat của nó để tạo thành (+) galocatechin. Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechins.
Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hiđroxin hóa và galin hóa. Từ những biến đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới “Nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam” [45]. Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Đặc điểm sinh học chung của cây chè Cây chè có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 30, thuộc loại thân gỗ hoặc thân bụi và được trồng để thu lá làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và mang một số đặc điểm sinh học sau đây [10]: Hình thái Thân và cành: Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ có một thân chính, thân thẳng và tròn, phân nhánh liên tục thành một hệ thống cành và chồi.
Sự phân cành của thân bụi khác nhau nên tạo cho cây chè có các dạng tán: tán đứng thẳng, tán trung gian và tán ngang [42]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nằm ngang Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia làm nhiều đốt. Từ thân chính, cành chè được phân ra nhiều cấp: cành cấp 1, cấp 2, cấp 3.
Chồi: Mọc ra từ nách lá, chia theo sự biệt hóa của chồi có chồi dinh dưỡng mọc ra lá và chồi sinh thực mọc ra nụ, hoa, quả. Mầm dinh dưỡng gồm có: Mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, mầm bất định (mầm ở cổ rễ). Mầm chè cắt dọc [46] Phía trái: (1. Điểm sinh trưởng); Phía phải: (1.
Mầm nách thứ 4, 5. Mầm nách thứ 5, 6. Điểm sinh trưởng) Búp chè: Búp chè là đoạn non của một cành chè. Búp được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc ba lá non.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Búp bình thường b. Búp mù Búp chè gồm có hai loại: búp bình thường và búp mù. Có thể tóm tắt hoạt động sinh trưởng búp theo tuần tự như sau: Hình 1.
Sơ đồ đợt sinh trưởng [45] Lá: Lá chè là loại lá hình đơn nguyên, mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá. Lá chè có gân rất rõ, những gân chính của lá chè thường không phát triển ra đến tận rìa lá. Trên một cành chè thường có các loại lá như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các loại lá trên cành chè [45] Hoa: Cây chè 2, 3 tuổi đã có thể ra hoa, kết quả lần đầu, hoa chè mọc ra từ mầm sinh thực ở nách lá chè.
Hoa chè là hoa lưỡng tính, trong đó có 5-8 cánh màu trắng, có khi phớt hồng. Quả: Quả chè là một loại quả nang có từ 1-4 hạt. Quả chè có dạng hình tròn, tam giác, vuông tùy theo số hạt. Khi còn non quả chè có màu xanh, khi chín chuyển sang màu xanh đậm hoặc nâu.
Khi vỏ chín vỏ quả nứt ra. Hạt: Hình cầu, bán cầu, tam giác tùy giống chè; vỏ sành thường màu nâu, cứng, bên trong là lớp vỏ mỏng. Kích thước hạt chè to nhỏ phụ thuộc vào kỹ thuật chăm sóc. Hạt chè có khối lượng từ 0,6-2 gam, thường là từ 1-1,6 gam.
Hệ rễ: Hệ rễ chè gồm có: rễ cọc (trụ), rễ dẫn (hay rễ nhánh, rễ bên) màu nâu hay nâu đỏ và rễ hút hay rễ hấp thụ màu vàng ngà. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rễ chè [45] Sự phân bố của rễ chè trong đất phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện đất đai và chế độ canh tác. Lượng dinh dưỡng trong đất có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ, nhất là lượng đạm.
Đặc tính sinh lý, sinh thái của cây chè Chè là một cây mọc trong những điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là cây trung tính trong giai đoạn cây con, lớn lên ưa sáng hoàn toàn. Dưới bóng râm, là chè xanh đậm, lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, sản lượng thấp vì quang hợp yếu. Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của chè là 22-28oC, búp chè sinh trưởng chậm ở 15- 18oC, dưới 10oC mọc rất chậm.
Trên 30oC chè mọc chậm, trên 40oC chè bị khô xém nắng lá non. Độ ẩm không khí tương đối thích hợp là 80-85% [46]. Sinh trưởng và phát triển của cây chè Thời vụ của cây chè: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 – Vụ Xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá. – Vụ Hè Thu (tháng 5-10): Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.
– Vụ Thu Đông (Tháng 11): hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá. Với các giống chè có dạng thân bụi, sinh trưởng đỉnh đều có thể hái kéo hay hái bằng máy để nâng cao năng suất lao động. Chu kỳ sinh trưởng và phát triển: Chu kỳ của một cây chè bao gồm ba giai đoạn và phát triển lặp lại nhiều lần trong một năm: Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn cây non hay giai đoạn thiết kế cơ bản. Sau đó là giai đoạn cây lớn là giai đoạn chè lớn kéo dài 20-30 năm, tuỳ giống, điều kiện đất đai, dinh dưỡng và khai thác.
Đây là giai đoạn chè cho năng suất cao nhất. Giai đoạn chè già cỗi, cây chè suy yếu dần, lá nhỏ, búp ít, chóng mù xoè, hoa quả nhiều, cành tăm hương nhiều, chồi gốc mọc nhiều. Thành phần hóa học của chè Chất lượng sản phẩm chè được đánh giá chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu thành phần hóa học có trong chè [2]. Thành phần hóa học của chè được xác định thường phụ thuộc loại chè và cách pha chế.
Trong đó, các polyphenol có vai trò rất quan trọng, quyết định đến màu sắc và hượng vị của chè [42]. Thành phần hóa học của chè tươi [2] Thành phần % khối lượng chất khô Catechins 25 – 30 (-)-Epigallocatechin gallate 8 – 12 (-)-Epicatechin gallate 3–6 (-)-Epigallo catechin 3–6 (-)-Epicatechin 1–3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 (+)-Catechin 1–2 (+)-Gallocatechin 3–4 Flavonol và flavonol glucoside 3–4 Poliphenolic acid và dẫn xuất 3–4 Leucoanthocyamin 2–3 Chlorophyll và các chất màu khác 0,5 – 0,6 Khoáng 5–6 Cafeine 3–4 Theobromine 0,2 Theophylline 0,5 Amino acid 4–5 Acid hữu cơ 0,5 – 0,6 Monosaccharide 4–5 Polysaccharide 14 – 22 Cellulose và hemicellulose 4–7 Pectin 5–6 Lignin 5–6 Protein 14 – 17 Lipid 3–5 Các hợp chất dê bay hơi 0,01 – 0,02 Nước là thành phần quan trọng và chủ yếu trong búp chè, chiếm 75- 82% khối lượng lá chè [45], hàm lượng nước phụ thuộc vào giống chè, thời vụ và độ non già của lá chè. Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè trên thế giới là 1. Độ ẩm tương đối không khí từ 80-85% có lợi cho sinh trưởng của chè.
Loại đất thích hợp cho trồng chè dày 60-100cm; mực nước ngầm dưới 100cm; độ chua pH: 4,5-5,5; tỷ lệ mùn 3- 4%. Xét thành phần khối lượng, nước là thành phần chủ yếu của lá chè. Theo số liệu của Phòng nghiên cứu chè và các cây trồng á nhiệt đới Liên bang về hàm lượng nước trong búp chè gồm một tôm ba lá trong các tháng bằng % được thể hiện ở bảng 1.2: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thành phần độ ẩm thay đổi theo tháng trong năm [44] Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Độ âm 3,6 3,6 2,9 7,3 7,5 7,5 8,5 7,8 7,2 5.6 3,5 0,3 (%) Hiện nay, xác định được độ ẩm của chè tăng lên trong thời gian bảo quản là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến làm giảm chất lượng của chè.
Như vậy muốn giữ được chất lượng chè khô ít biến đổi trong thời gian bảo quản phải quan tâm đến độ ẩm của chè lúc bao gói, đóng thùng [47]. Chất khô: Chiếm 25-30% khối lượng lá chè, gồm có các polyphenol, pectin, chất xơ (xenlulo), protein, amino acid, các alcoloit (cafein, theofilin, theobromin), các enzyme (enzyme oxi hóa và enzyme thủy phân) và chất tro. Hợp chất polyphenol (tannin): Thành phần hóa học chính trong chất rắn chiết xuất từ chè xanh là polyphenol, thường chiếm 20-30% chất khô trong chè. Tanin của cây chè là một phức hợp của nhiều hợp chất hữu cơ tự nhiên có bản chất phenol.
Hợp chất phenol giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị của chè đặc biệt là chè đen. Tanin có đặc tính dễ bị oxi hóa dưới tác dụng của enzym và được cung cấp oxi đầy đủ.