Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Thuật ngữ “đa dạng sinh học” được sử dụng lần đầu tiên từ năm 1988 (Wilson,1988) và đã trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm khi Chương trình Nghị sự 21 công bố tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro, Brasil năm 1992. Từ đó đến nay, có rất nhiều khái niệm được đưa ra về ĐDSH, trong số đó WWF (1989) đề xuất như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [28]. Như vậy khi nói đến đa dạng sinh học chúng ta phải đề cập đến 3 cấp độ; đa dạng về gen, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái.
Đa dạng về gen là sự khác biệt về vật chất di truyền trong nội bộ của một loài. Tính đa dạng gen biểu hiện ra ngoài tự nhiên chính là những quần thể cùng loài nhưng sống ở các sinh cảnh (vùng) khác biệt nhau và những biến dị của các cá thể trong cùng một quần thể. Đa dạng về loài chỉ mức độ phong phú về loài trong một sinh cảnh hay khu vực nhất định. Tính đa dạng loài được biểu hiện trên hai khía cạnh; thứ nhất là số lượng loài và mối quan hệ họ hàng giữa các loài, thứ hai là cấu trúc tổ thành giữa các loài.
Đa dạng về hệ sinh thái được phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh qua mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường. Việc phân chia các hệ sinh thái là rất khó khăn vì ranh giới giữa chúng không rõ ràng. Tuỳ thuộc vào nhóm sinh vật nghiên cứu (đối tượng nghiên cứu), đúng hơn là mối quan hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 của nhóm sinh vật đó với môi trường mà có cách phân chia sinh cảnh (hay hệ sinh thái) hợp lý. Trong đề tài này tính đa dạng sinh học thú được mô tả chính là số loài thú và mối quan hệ họ hàng giữa chúng, cấu trúc tổ thành các loài thú trong khu vực, các đàn thú sống ở các sinh cảnh khác biệt nhau, một số cá thể thú có đặc điểm khác biệt so với các cá thể trong loài và số sinh cảnh có thể phân chia được khi nghiên cứu mối quan hệ của thú với môi trường sống.
Sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (1993), thuật ngữ “đa dạng sinh học” đã được đưa vào văn bản pháp luật của các quốc gia (các bên) tham gia công ước. Việt Nam cũng là một thành viên của Công ước Đa dạng sinh học, nên thường sử dụng khái niệm: “Thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên. Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người” [3]. Vào những năm cuối của thế kỷ XX, khái niệm ĐDSH đã đề cập đến mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội, gắn yếu tố con người (human) với ĐDSH. Trong một khái niệm về ĐDSH của WRI (2005) có đề cập “…loài người phụ thuộc hoàn toàn vào quần xã sinh vật – sinh quyển,…đa dạng sinh học là một giới hạn bao trùm sự giàu có về sinh vật tự nhiên, điều đó củng cố cho sức khỏe và sự sống của con người…”. [44] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Blaikie và Jeanemaud (1995) đã minh họa điều đó bằng sơ đồ về ĐDSH như sau: Hệ thống tự nhiên Hệ thống xã hội Di truyền Văn hóa Loài Công nghệ Quần thể Kinh tế Quần xã Kiến thức bản địa Hệ sinh thái Thông tin … … ĐA DẠNG SINH HỌC LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA HAI HỆ THỐNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Sơ đồ 1-1: Quan niệm về ĐDSH theo Blaikie and Jeanemaud (1995) Nguồn: Hoàng Văn Thắng, Phạm Bình Quyền, Trương Quang Học, 1998 [33] Như vậy, có thể thấy rằng: ĐDSH bao gồm sự phong phú của thế giới sinh vật; thể hiện bằng tất cả các dạng, các mức độ và sự tổ hợp của chúng trong mối tương hỗ giữa chúng với môi trường tự nhiên và xã hội.
Đó không chỉ là tổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau, với thế giới vô sinh và với con người. Biến động của ĐDSH phụ thuộc vào mối tương tác nói trên. Mặt khác, sự phát triển của các hệ thống xã hội là không đồng đều và có những đặc thù riêng do đó mức độ tác động đến ĐDSH ở mỗi nơi là khác nhau. Ở Việt Nam, trình độ phát triển xã hội còn hạn chế về khoa học công nghệ, công tác qui hoạch và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã ảnh hưởng đến sự suy giảm ĐDSH.
Tuy nhiên, Việt Nam lại có một hệ thống kiến thức bản địa và văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hóa truyền thống đa dạng đã góp phần làm phong phú hơn và hình thành các khu vực có tính đặc thù về ĐDSH – nhân văn khác nhau. Quan điểm ĐDSH là sự tương tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội đã khắc phục sự hạn chế và tính cô lập trong bảo tồn nặng về kỹ thuật, mà đã chỉ ra rằng cần có cách tiếp cận tích hợp, cần đặt nghiên cứu bảo tồn ĐDSH trong một mối quan hệ hữu cơ giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội. Nghiên cứu này, ngoài việc mô tả tính đa dạng sinh học thú về mặt tự nhiên còn mô tả các đặc điểm sinh thái nhân văn của khu hệ, để làm cơ sở khoa học cho các giải pháp quản lý bảo tồn thú tại KBTTN ĐaKrông. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ Ở VIỆT NAM Lịch sử nghiên cứu đa dạng sinh học thú ở Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 giai đoạn chính như sau: 1) Trước năm 1954: Bước đầu nghiên cứu lập danh lục thú của cả nước; 2) Từ 1955 đến 1975: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương ở Miền Bắc; 3) Từ 1975 đến nay: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương trên toàn quốc phục vụ qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học.
• Thời kỳ trước năm 1954 Cuối thế kỷ 19, với sự xâm chiếm của thực dân Pháp các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu xâm nhập nước ta và tiến hành các cuộc điều tra thăm dò động vật giới Việt Nam như: Milne-Edwards, 1867-1874; Morice, 1875; Billet, 1896-1898; Butan, 1900-1906; De Pousargue, 1904; Menegaur, 1905- 1906; Bonhote, 1907; Kloss, 1920-1926,. Tới đầu thế kỷ 20, việc xây dựng danh lục vẫn được tiếp tục bởi Osgood, 1932; Delacour, 1940, 1951; Bourret, 1942-1944;. Một số nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này như: Nghiên cứu của đoàn Pavie (Đoàn nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương) từ năm 1879 đến năm 1898 tại Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Camphuchia, Thái Lan và phần biên giới Thái Lan- Miến Điện). Tại Việt Nam, đoàn Pavie hoạt động chủ yếu ở miền Nam.
Những tài liệu về thú do đoàn Pavie thu thập đã giao cho De Pousargue nghiên cứu và kết quả được công bố trong bộ sách của Pavie xuất bản năm 1904. Có thể coi đó là công trình nghiên cứu thú đầu tiên, tương đối hoàn chỉnh ở Đông Dương về mặt khu hệ. Trong đó, De Pousargue đã thống kê được 200 loài và loài phụ thú (kể cả thú nuôi) phân bố ở Đông Dương. Riêng ở Việt Nam đã phát hiện được 117 loài và loài phụ.
Osgood đã tập hợp rất nhiều những tài liệu nghiên cứu trước đó (của H. Wulsin, Delacour, Delacour et Lowe, đoàn Kelley- Roosevelt) và đưa ra thông báo chung về thú (Osgood, 1932). Trong tài liệu này Osgood đã ghi nhận được 251 loài và loài phụ, trong đó có 19 dạng mới. Trong phạm vi Việt Nam đã gặp tới 172 loài và loài phụ, kèm theo những địa điểm sưu tầm.
Đây là một công trình có giá trị về mặt nghiên cứu phân loại và khu hệ. Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam. • Thời kỳ từ 1955 đến 1975 Sau khi miền Bắc được giải phóng (1954), các hoạt động nghiên cứu về thú hoàn toàn do những cán bộ khoa học Việt Nam đảm nhiệm. Lực lượng điều tra nghiên cứu thời kỳ này chủ yếu là Phòng Động vật học của UBKHKT Nhà nước; Khoa Sinh vật học- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Viện Điều tra Quy hoạch rừng- Tổng Cục Lâm nghiệp và Khoa Sinh vật học- Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số cơ quan khác trong lĩnh vực công tác cũng có liên quan nhiều đến việc sưu tầm thú, mà chủ yếu là thú gặm nhấm dạng chuột như; Viện vệ sinh dịch tễ học, Viện sốt rét- ký sinh trùng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Viện quân y. Kết quả nghiên cứu về thú trong thời kỳ đầu miền Bắc giải phóng còn nhiều hạn chế, do lực lượng cán bộ mỏng, địa bàn điều tra hẹp, chỉ tập trung vào thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài. Từ sau năm 1959, đã có một số đợt điều tra tổng hợp về động vật với lực lượng cán bộ và số cơ quan tham gia ngày càng lớn. Phạm vi điều tra được mở rộng trên toàn miền Bắc.
Nội dung điều tra cũng phong phú hơn, bao gồm cả điều tra thành phần loài, nghiên cứu sinh học, sinh thái, phát hiện trữ lượng và khả năng khai thác sử dụng các loài có giá trị kinh tế.