Tổng quan nghiên cứu

Nghề gây nuôi động vật hoang dã tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đặc sản và dược liệu quý. Theo thống kê của CITES Việt Nam, cả nước có 4.321 cơ sở chăn nuôi được cấp phép với 97 loài động vật hoang dã, trong đó lớp Thú chiếm 34 loài. Dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus Blyth, 1851) thuộc họ Dúi (Rhizomyidae), bộ Gặm nhấm (Rodentia), là loài thú kinh tế có giá trị thương phẩm cao với chất lượng thịt thơm ngon và lớp mỡ có công dụng hỗ trợ điều trị bỏng. Tuy nhiên, trước áp lực săn bắt quá mức nhiều năm liền, nguồn tài nguyên dúi trong tự nhiên đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nghiêm trọng. Các mô hình chăn nuôi tự phát tại nhiều địa phương hầu hết gặp thất bại do người nuôi thiếu hiểu biết sâu sắc về đặc tính sinh học, sinh thái và tập tính của loài.

Luận văn thạc sĩ lâm học thực hiện bởi học viên Nguyễn Thanh Tân tại Trường Đại học Lâm nghiệp tập trung giải quyết bài toán trên thông qua đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi dúi mốc Lớn (Rhizomys pruinosus Blyth, 1851)". Mục tiêu cốt lõi của công trình là cung cấp hệ thống dẫn liệu khoa học chuẩn xác về hình thái, sinh thái học dinh dưỡng, sinh sản và tập tính của loài dúi mốc lớn; từ đó xây dựng quy trình kỹ thuật nhân nuôi hoàn chỉnh quy mô hộ gia đình gắn liền với hiệu quả kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học. Phạm vi nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ ngày 01/07/2007 đến ngày 15/09/2008, bao gồm khảo sát thực địa trên diện tích 3 ha rừng tự nhiên tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và thực nghiệm nuôi nhốt theo dõi trên đàn 130 cá thể tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Cứu hộ động vật rừng (Xuân Mai, Hà Nội).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên nền tảng lý thuyết sinh thái học cá thể và sự thích nghi tiến hóa của động vật gặm nhấm sống ngầm dưới lòng đất. Cấu trúc cơ thể của dúi mốc lớn mang tính chuyên hóa cao với chi trước khỏe mang móng vuốt sắc, mắt nhỏ, tai ngắn, đuôi cộc và hệ cơ hàm phát triển phục vụ hoạt động đào hang cũng như gặm nhai rễ cây. Lý thuyết dinh dưỡng học động vật ăn thực vật giàu chất xơ được vận dụng để lý giải cấu trúc hệ tiêu hóa đặc thù của loài: đoạn ruột già dài trung bình 1.050 mm và ruột tịt dài 130 mm, dài vượt trội so với ruột non (710 mm), tạo buồng lên men vi sinh vật tối ưu cho quá trình phân giải xenlulôzơ từ thân tre nứa.

Bên cạnh đó, đề tài bám sát khung pháp lý quản lý động vật hoang dã của Nhà nước như Nghị định số 32/2006/NĐ-CP (quy định quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB), Chỉ thị số 359-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư hướng dẫn thực thi Công ước CITES. Nghiên cứu tập trung chuẩn hóa 4 khái niệm trung tâm: sinh cảnh vi khí hậu ngầm, chu kỳ vận động ngày đêm, định mức tiêu thụ dinh dưỡng hữu hiệu và kỹ thuật thuần dưỡng ghép đôi đơn thê.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế khoa học nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê cao:

  • Khảo sát thực địa tự nhiên: Thiết lập 30 ô tiêu chuẩn kích thước 25 m x 40 m (tương đương 1.000 m2/ô, tổng diện tích 3 ha) theo phương pháp tuyến ngẫu nhiên tại sườn phía Tây Vườn Quốc gia Tam Đảo. Khảo sát 21 hang tổ tự nhiên, trong đó trực tiếp đào bới 8 hang để mô tả cấu trúc không gian và bắt giữ 8 cá thể (3 đực, 5 cái) nhằm xác định mật độ quần thể.
  • Nghiên cứu thực nghiệm nuôi nhốt: Theo dõi liên tục đàn thực nghiệm 130 cá thể dúi (75 đực, 55 cái). Trong đó, chọn mẫu ngẫu nhiên 8 cá thể đo hình thái ngoài, 5 cá thể giải phẫu nội quan, 12 cá thể (6 đực, 6 cái) thử nghiệm định mức khẩu phần ăn trong 2 đợt, 15 cặp sinh sản theo dõi đường cong tăng trưởng con non từ sơ sinh đến 90 ngày tuổi, và 6 cá thể (3 đực, 3 cái) quan sát tập tính.
  • Phương pháp phân tích: Đo đạc hình thái sinh học theo tiêu chuẩn thú học của Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng (2000) bằng thước kẹp Palme và cân điện tử độ chính xác 0,1 g; phân tích sinh hóa hàm lượng nước, protein thô, xơ và khoáng trong thức ăn; quan sát tập tính bằng phương pháp quét (Scan Sampling) chu kỳ 15 phút/lần trong 24 giờ liên tục qua 432 lượt bắt gặp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm đã làm sáng tỏ toàn diện các đặc trưng sinh học và sinh thái của dúi mốc lớn:

  • Đặc điểm hình thái và cấu trúc cơ thể: Đo đạc trên 8 cá thể trưởng thành ghi nhận chiều dài thân-đầu trung bình đạt 317,5 mm, chiều dài đuôi đạt 125,0 mm, chiều dài bàn chân sau đạt 53,63 mm, cao tai đạt 16,0 mm và khối lượng thân trung bình đạt 1.112,5 g (dao động từ 800 g đến 1.400 g). Công thức răng cố định gồm 16 răng, răng cửa không ngừng dài ra đòi hỏi việc mài mòn liên tục.
  • Mật độ sinh thái và cấu trúc hang tự nhiên: Tại VQG Tam Đảo, dúi mốc lớn phân bố chủ yếu ở rừng tre nứa thuần loại hoặc hỗn giao tre nứa núi đất với mật độ 2,67 cá thể/ha. Cấu trúc hang đào sâu từ 20 đến 25 cm, chiều dài đường hang trung bình 2,55 m, gồm 1 lối vào (đường kính 10,3 cm) và 2 lối thoát hiểm (đường kính 8,1 cm). Ổ ngủ được lót lá khô đặt ở độ sâu trung bình 1,15 m dưới lòng đất với đường kính buồng tổ đạt 26,3 cm.
  • Phổ thức ăn và định mức dinh dưỡng: Xác định dúi ăn được 19 loại thức ăn (15 loài thực vật và 4 loài có nguồn gốc động vật), trong đó cỏ voi V06, tre gai, tre luồng, nứa tép, mía và ngô hạt là thức ăn ưa thích nhất. Hàm lượng nước trong các loại măng và thân tre đạt rất cao từ 89,0% đến 93,6%, giải thích hiện tượng dúi không cần uống nước trực tiếp. Mức tiêu thụ thức ăn thực tế trung bình của dúi trưởng thành đạt 169,4 g hỗn hợp/cá thể/ngày.
  • Sinh trưởng, sinh sản và tập tính: Dúi có chu kỳ mang thai và sinh con từ 46 đến 49 ngày sau khi ghép đôi, đẻ 1 đến 3 con/lứa vào mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 6. Khối lượng sơ sinh đạt trung bình 36,8 g, tăng vọt lên 431,3 g ở 90 ngày tuổi (giai đoạn cai sữa) và đạt tuổi thành thục sinh dục ở 5-6 tháng tuổi (thể trọng 0,65-0,75 kg). Về tập tính ngày đêm, dúi dành 37,2% thời gian cho nghỉ ngơi, 21,3% cho ngủ, 20,0% cho ăn uống và 18,1% cho vận động; hoạt động mạnh nhất từ 16h00 đến 5h00 sáng hôm sau ở nền nhiệt độ tối ưu 26-28°C.

Thảo luận kết quả

Mật độ dúi 2,67 cá thể/ha tại VQG Tam Đảo thấp hơn đáng kể so với mức 15-25 cá thể/ha từng được ghi nhận trong các công trình nghiên cứu trước đây tại miền Bắc. Sự sụt giảm này phản ánh thực trạng suy thoái quần thể do các hoạt động săn bẫy tự nhiên kéo dài.

Các dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị tương quan trọng lượng cơ thể và lượng thức ăn tiêu thụ, đường cong tăng trưởng khối lượng từ 1 đến 90 ngày tuổi, và sơ đồ mặt cắt đứng của hệ thống hang tổ. Đồ thị sinh trưởng chỉ ra 2 giai đoạn bứt phá thể trọng: từ 1 đến 15 ngày tuổi (khối lượng tăng gấp đôi nhờ sữa mẹ) và từ 15 đến 45 ngày tuổi (tăng 100-130 g/tháng).

Về mặt tập tính, hiện tượng cắn nát thức ăn thừa dồn thành đống lớn trong chuồng được xác định là nhu cầu sinh lý bắt buộc để mài răng cửa và đánh dấu lãnh thổ. Tập tính sống đơn độc ngoài mùa sinh sản cũng giải thích nguyên nhân các cá thể đực trưởng thành cắn nhau đến chết nếu nuôi nhốt chung ô mà không có giai đoạn làm quen mùi hương từ 2-3 ngày trước đó.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu sinh học và thử nghiệm mô hình thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể:

  1. Chuẩn hóa thiết kế chuồng nuôi và môi trường chuồng trại: Khuyến nghị người chăn nuôi áp dụng kiểu chuồng số 2 (xây gạch trát nhẵn xi măng, diện tích 1,8 m2, kích thước 1,5 m x 1,2 m, tường cao 0,8-1,0 m). Phía trong bố trí hang gạch tối kích thước 15 cm x 25 cm x 20 cm kết hợp sân chơi thông thoáng có nắp lưới sắt mắt cáo. Duy trì nhiệt độ chuồng nuôi ổn định từ 26-28°C; định kỳ dọn vệ sinh phân 2 lần/tuần, phun thuốc sát trùng 15 ngày/lần và rắc vôi bột khử khuẩn 45-60 ngày/lần nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa xuống dưới 3%.
  2. Thiết lập khẩu phần ăn và bổ sung vi lượng định kỳ: Cung cấp định lượng thức ăn hỗn hợp hàng ngày theo trọng lượng cơ thể: dúi 0,5-0,6 kg cấp 150 g/ngày (50 g cỏ voi, 80 g tre, 5 g mía, 15 g ngô); dúi 1,0-1,2 kg cấp 275 g/ngày (100 g cỏ voi, 130 g tre, 15 g mía, 30 g ngô). Cung cấp bánh khoáng vi lượng tự chế (thành phần gồm 1.000 g NaCl, 100 g FeSO4, 50 g CuSO4, 1.000 g bột than xương trộn đất sét làm thành bánh 5 kg) với liều lượng 20-25 g/tháng cho mỗi cá thể để ngăn ngừa hiện tượng còi cọc và rụng lông.
  3. Quản lý quy trình ghép đôi và chăm sóc dúi sinh sản: Tiến hành ghép đôi sinh sản theo tỷ lệ 1 đực : 1 cái vào thời điểm chiều tối. Khi dúi mẹ sinh con, cần tách ngay dúi bố sang ô chuồng riêng để triệt tiêu hiện tượng dúi đực cắn chết con non; giữ không gian tuyệt đối yên tĩnh, tránh tiếng ồn lạ khiến dúi mẹ hoảng loạn. Duy trì nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 45 ngày tuổi, bắt đầu tập ăn dặm và tiến hành tách mẹ độc lập ở mốc 90 ngày tuổi.
  4. Xây dựng chuỗi liên kết và hoàn thiện thủ tục pháp lý: Cơ quan khuyến nông và kiểm lâm cấp tỉnh cần hướng dẫn các hộ nuôi hoàn thiện hồ sơ đăng ký trại nuôi sinh sản động vật hoang dã theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Công ước CITES. Thành lập các tổ hợp tác nuôi dúi thương phẩm tại các vùng nguyên liệu tre nứa dồi dào trong giai đoạn 2008-2015 nhằm chuyển giao công nghệ, hỗ trợ dịch vụ thú y và bảo đảm đầu ra bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Chủ trang trại và hộ gia đình phát triển kinh tế nông lâm nghiệp: Nắm vững bản vẽ kỹ thuật chuồng trại kiểu 2, công thức phối chế khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày và kỹ thuật quản lý đàn giống sinh sản tránh cận huyết, giúp tối ưu hóa chi phí đầu tư và nâng cao tỷ lệ sống của con non lên trên 90%.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học và Động vật học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao với hệ thống số liệu giải phẫu ruột già, ruột tịt, công thức bộ răng và phân tích tần suất hoạt động ngày đêm của loài thú ngầm.
  • Cán bộ quản lý Kiểm lâm và các Tổ chức bảo tồn thiên nhiên: Khai thác dữ liệu mật độ quần thể 2,67 cá thể/ha tại VQG Tam Đảo và quy trình phân loại giới tính làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch bảo tồn, thẩm định cấp phép và giám sát trại gây nuôi động vật hoang dã nhóm IIB.
  • Cán bộ khuyến nông và chuyên viên phát triển nông thôn miền núi: Ứng dụng luận văn làm cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, tận dụng phụ phẩm lâm nghiệp sẵn có như tre, nứa, cỏ voi để tạo sinh kế sinh thái bền vững cho người dân vùng đệm các khu bảo tồn.

Câu hỏi thường gặp

Dúi mốc lớn trong điều kiện nuôi nhốt có cần cung cấp nước uống hàng ngày không? Dúi mốc lớn hoàn toàn không cần uống nước trực tiếp. Kết quả phân tích sinh hóa chỉ ra hàm lượng nước trong các loại thức ăn ưa thích như măng, thân tre luồng, nứa tép và cỏ voi V06 chiếm từ 89,0% đến 93,6% khối lượng. Lượng nước dồi dào này kết hợp với môi trường sống mát mẻ trong hang ngầm đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh lý của cơ thể. Ngược lại, việc cung cấp khay nước hoặc cho ăn quá nhiều thức ăn nhiều nước như mía dễ dẫn đến rối loạn tiêu hóa và bệnh ỉa chảy.

Tại sao dúi mẹ và dúi bố lại có hiện tượng cắn chết con non khi mới sinh? Hiện tượng dúi bố mẹ cắn chết con non xuất phát từ hai nguyên nhân sinh học chính. Khi có tiếng ồn lớn, ánh sáng mạnh chiếu thẳng hoặc người lạ tiếp xúc ổ đẻ, dúi mẹ bị căng thẳng thần kinh và kích hoạt phản xạ tự vệ ăn con. Đối với dúi bố, do tập tính cạnh tranh sinh sản, con đực thường có xu hướng cắn chết con non để khiến dúi mẹ nhanh chóng kết thúc chu kỳ nuôi con và sớm động dục trở lại. Do đó, bắt buộc phải tách riêng con đực trước khi dúi cái sinh nở.

Dúi mốc lớn bao nhiêu tháng tuổi thì bắt đầu sinh sản và mỗi năm đẻ được mấy lứa? Dúi mốc lớn nuôi nhốt đạt độ thành thục sinh dục hoàn thiện ở 5 đến 6 tháng tuổi khi trọng lượng cơ thể đạt từ 0,65 đến 0,75 kg. Trong điều kiện chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ, mỗi năm dúi cái có thể đẻ từ 2 đến 3 lứa, mỗi lứa từ 1 đến 3 con non (phổ biến nhất là 2 con). Mùa sinh sản tập trung chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 6 dương lịch.

Khẩu phần ăn hàng ngày cho một cá thể dúi mốc lớn trưởng thành gồm những gì? Một cá thể dúi trưởng thành (thể trọng từ 1,0 đến 1,2 kg) cần khẩu phần ăn hỗn hợp gồm 275 g/ngày. Cơ cấu thức ăn chuẩn bao gồm: 100 g thân cỏ voi V06 già cắt khúc, 130 g thân tre hoặc nứa bánh tẻ cắt đoạn 10-15 cm, 15 g mía tươi và 30 g ngô hạt đã ngâm nước ráo. Hàng tháng cần đặt thêm 1 viên bánh khoáng đa vi lượng tự chế để dúi gặm mài răng và bổ sung khoáng chất.

Gây nuôi dúi mốc lớn quy mô hộ gia đình có cần phải đăng ký giấy phép kiểm lâm không? Dúi mốc lớn là động vật rừng thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Do đó, mọi tổ chức và cá nhân khi tiến hành xây dựng chuồng trại nhân giống hoặc nuôi thương phẩm bắt buộc phải đăng ký cấp mã số cơ sở chăn nuôi với Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và Công ước CITES. Động vật sống từ thế hệ F2 trở đi mới được phép tiêu thụ thương mại hợp pháp.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập đầy đủ hệ thống dữ liệu sinh học, sinh thái và đặc điểm hình thái chuẩn của loài dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus) tại Việt Nam với trọng lượng trung bình 1.112,5 g và công thức 16 răng thích nghi cao độ với thức ăn xơ cứng.
  • Khảo sát thực tế tại VQG Tam Đảo xác định mật độ quần thể tự nhiên ở mức thấp (2,67 cá thể/ha) trong sinh cảnh rừng tre nứa núi đất, khẳng định tính cấp thiết của giải pháp nhân giống bảo tồn.
  • Khám phá 19 loài thức ăn tự nhiên và xây dựng thành công định mức khẩu phần thức ăn hỗn hợp đạt 150-275 g/cá thể/ngày, làm sáng tỏ cơ chế sinh lý không cần uống nước trực tiếp nhờ hấp thụ 89-93,6% lượng nước từ thân tre nứa và cỏ voi.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật nhân nuôi chuồng kiểu 2 (diện tích 1,8 m2), làm rõ thời gian mang thai 46-49 ngày, tuổi cai sữa tách mẹ ở mốc 90 ngày (thể trọng 431,3 g) và tuổi thành thục sinh dục ở 5-6 tháng tuổi.
  • Đề tài đóng góp nền tảng khoa học vững chắc giúp mở rộng mô hình chăn nuôi động vật hoang dã bền vững trong giai đoạn tiếp theo, mở ra hướng đi xóa đói giảm nghèo hiệu quả cho vùng đồng bào miền núi. Các viện nghiên cứu và cơ quan quản lý nông nghiệp cần tiếp tục phối hợp triển khai các mô hình thử nghiệm bán công nghiệp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm soát dịch bệnh và phát triển chuỗi giá trị thương phẩm trên toàn quốc.