Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus Blyth 1851

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus Blyth 1851, cung cấp kiến thức hữu ích cho ngành chăn nuôi.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2008

67
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHÂN NUÔI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1. Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã trên thế giới

1.2. Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam

1.3. Cơ sở pháp lý của nghề nhân nuôi động vật hoang dã

1.4. Các loài dúi ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Giới hạn của đề tài

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của Dúi mốc lớn

2.4.2. Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân nuôi dúi mốc lớn

2.4.3. Hiệu quả kinh tế và đề xuất kiến nghị về phát triển nghề nuôi dúi mốc ở Việt Nam

2.5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Kế thừa chọn lọc tài liệu

2.6.2. Nghiên cứu đặc điểm hình thái

2.6.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái dúi mốc trong tự nhiên

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus

Nghiên cứu về loài dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus) đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong sinh học động vật và kỹ thuật nuôi trồng. Loài này không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn đóng góp vào bảo tồn đa dạng sinh học. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng là cần thiết để phát triển kỹ thuật nuôi dúi mốc một cách hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus

Dúi mốc lớn có kích thước lớn, với chiều dài cơ thể từ 200-398 mm và trọng lượng lên đến 1.500g. Chúng có bộ lông dày, màu nâu xám, thích nghi tốt với môi trường sống dưới đất. Đặc điểm này giúp chúng dễ dàng tìm kiếm thức ăn và sinh sống trong các khu rừng.

1.2. Môi trường sống và tập tính của dúi mốc lớn

Dúi mốc lớn thường sống trong các hang tự đào ở khu rừng nhiều tre nứa. Chúng chủ yếu ăn thực vật như rễ cây, măng và củ sắn. Tập tính sống đơn lẻ và chỉ gặp nhau trong mùa sinh sản là đặc điểm nổi bật của loài này.

II. Thách thức trong việc nuôi dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus

Việc nuôi dúi mốc lớn gặp nhiều thách thức, từ việc thiếu hiểu biết về sinh học đến kỹ thuật nuôi trồng chưa được phát triển. Nguồn tài nguyên tự nhiên đang cạn kiệt do khai thác quá mức, điều này đòi hỏi cần có các giải pháp bền vững để bảo tồn và phát triển loài này.

2.1. Khó khăn trong việc nhân nuôi dúi mốc

Nhiều hộ gia đình đã thử nghiệm nuôi dúi mốc nhưng không thành công do thiếu kiến thức về đặc điểm sinh học và sinh thái của loài. Việc này dẫn đến tỷ lệ thất bại cao trong quá trình nuôi.

2.2. Tác động của môi trường đến sinh trưởng của dúi mốc

Môi trường sống bị thay đổi do hoạt động của con người ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của dúi mốc. Việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên là rất cần thiết để duy trì nguồn gen và sức khỏe của loài.

III. Phương pháp nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn

Để phát triển kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Việc xây dựng quy trình nuôi trồng dựa trên các đặc điểm sinh học và sinh thái của loài là rất quan trọng.

3.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và dinh dưỡng

Nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng của dúi mốc lớn giúp xác định khẩu phần ăn phù hợp. Các thành phần dinh dưỡng như protein, gluxit và vitamin cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo sức khỏe cho loài.

3.2. Xây dựng quy trình nuôi dúi mốc hiệu quả

Quy trình nuôi cần bao gồm các yếu tố như chuồng nuôi, chế độ ăn uống và chăm sóc sức khỏe. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dúi mốc lớn

Kết quả nghiên cứu về dúi mốc lớn không chỉ giúp phát triển nghề nuôi trồng mà còn góp phần bảo tồn loài. Việc áp dụng các kỹ thuật nuôi trồng hiệu quả sẽ tạo ra nguồn thực phẩm và dược phẩm quý giá cho xã hội.

4.1. Hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi dúi mốc

Mô hình nuôi dúi mốc lớn có thể mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi. Thịt dúi được ưa chuộng và có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các loại thịt khác.

4.2. Đề xuất khuyến cáo về phát triển nghề nuôi dúi mốc

Cần có các chính sách hỗ trợ từ nhà nước để phát triển nghề nuôi dúi mốc. Việc cung cấp thông tin và đào tạo cho người chăn nuôi là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus

Nghiên cứu về dúi mốc lớn đang mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển nghề nuôi trồng động vật hoang dã tại Việt Nam. Tương lai của loài này phụ thuộc vào việc bảo tồn môi trường sống và áp dụng các kỹ thuật nuôi trồng bền vững.

5.1. Tương lai của nghề nuôi dúi mốc lớn

Nghề nuôi dúi mốc lớn có tiềm năng phát triển mạnh mẽ nếu được đầu tư đúng mức. Việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật nuôi trồng sẽ giúp nâng cao giá trị kinh tế cho người chăn nuôi.

5.2. Vai trò của bảo tồn trong nghiên cứu về dúi mốc

Bảo tồn loài dúi mốc lớn không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn góp phần vào phát triển bền vững. Cần có các biện pháp bảo vệ môi trường sống tự nhiên để đảm bảo sự tồn tại của loài.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn rhizomys pruinosus blyth 1851

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHÂN NUÔI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã trên thế giới Theo các tài liệu lịch sử, loài người đã biết săn bắt, thuần dưỡng các loài động vật hoang dã từ 4000-5000 năm trước công nguyên. Đến nay trên thế giới đã có một tập đoàn các loài động vật nuôi rất đa dạng với hàng ngàn loài và giống gia súc, gia cầm, thủy sản, động vật cảnh, nhằm chủ động tạo ra nguồn sản phẩm động vật đa dạng, phong phú và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Trên thế giới nhân nuôi động vật hoang dã đã trở thành một ngành sản xuất rất phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao như nuôi hươu sao (Cervus nippon), hươu xạ (Moschus berezovski), cá sấu (Crocodylus sp.), trăn (Python sp.), các loài rắn, Gấu, chim cảnh… ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Đức,Thái Lan và nhiều quốc gia khác.

Do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về các sản phẩm có nguồn gốc động vật hoang dã, con người đã khai thác, săn bắn quá mức làm cho nguồn tài nguyên này trở nên cạn kiệt, hầu hết các loài quý hiếm, có giá trị cao đều đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hoặc không còn khả năng khai thác. Trước thực tế đó, nghề nhân nuôi các loài động vật hoang dã không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời làm giảm áp lực săn bắt động vật hoang dã, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH). Ngày nay, nhân nuôi động vật hoang dã còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các loài động vật đang có nguy cơ bị tiệt chủng. Theo Conway (1998), hiện nay tại các vườn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xương sống ở cạn, đại diện của 3.000 loài chim, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 thú, bò sát, ếch nhái.

Mục đích của phần lớn các vườn động vật hiện nay là gây nuôi các quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ thăm quan du lịch, giải trí và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc nghiên cứu trong các vườn động vật cũng đang được chú trọng. Các nhà khoa học đang cố gắng tìm các giải pháp tối ưu để nhân giống, phát triển số lượng. Tuy nhiên, về kỹ thuật nhân nuôi, sinh thái và tập tính cũng như việc thả chúng về môi trường tự nhiên còn có nhiều vấn đề đặt ra cho công tác nhân nuôi cần phải giải quyết.

Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam Nghề gây nuôi sinh sản động vật hoang dã ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu và đã đạt được những thành công quan trọng như nuôi hươu sao, nai, khỉ vàng, trăn, rắn, ba ba, ếch đồng, cá sấu,. Trong những thập niên gần đây, hoạt động gây nuôi sinh sản động vật hoang dã được phát triển mạnh và phổ biến ra hầu hết các tỉnh trong cả nước. Theo số liệu của CITES Việt Nam (Bộ NN và PTNT, 2007), hiện nay toàn quốc có 4.321 cơ sở chăn nuôi (bao gồm nuôi tăng trưởng, nuôi sinh sản) được CITES Việt Nam cấp giấy phép, có quy mô vừa và nhỏ (chủ yếu là tư nhân), đang nhân nuôi 2.000 cá thể động vật thuộc 97 loài, thuộc 4 lớp (Thú, Chim, Bò sát và Ếch nhái). Trong đó lớp Ếch nhái có 7 loài, 602.000 con; Chim 24 loài, 2.000 con, Thú 34 loài 38.

Trên thực tế, số lượng các cơ sở chăn nuôi lớn hơn nhiều, song vì nhiều lý do phần lớn chưa đăng ký với các cơ quan chức năng. Trong số 97 loài ĐVHD hiện đang được chăn nuôi trên toàn quốc, chỉ có 39 loài có tiềm năng nhân nuôi, trong đó Ếch nhái: 2 loài, Bò sát: nhiều nhất với 19 loài, Chim: 4 loài và Thú: 14 loài. Hiện nay, ở nước ta có 2 cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã lớn là: Thảo cầm viên Sài Gòn, đã được xây dựng từ hơn 100 năm nay, hiện nuôi hơn 120 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 loài với khoảng 530 cá thể; Vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội), mới được thành lập hơn 30 năm, hiện đang nuôi khoảng 100 loài với 500 cá thể. Nhiệm vụ chính của các Vườn thú là phục vụ tham quan, công tác nghiên cứu về kỹ thuật chăn nuôi, nhân giống một số loài (Hổ, Nai, Hươu sao, Khỉ, các loài Cầy…) cũng được tiến hành, nhưng kết quả nghiên cứu ít được phổ biến.

Ngoài ra, cũng có một số cơ sở tương đối lớn khác như: Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Đảo Rều (Quảng Bình), Hòn Tre (Nha Trang), Trung tâm Giống Thụy Phương Hà Nội, Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã Sóc Sơn (Hà Nội). Chăn nuôi nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình ở nhiều địa phương như: Nuôi hươu sao ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Hiếu Liêm (Đồng Nai); nuôi rắn hổ mang ở Lệ Mật - Gia Lâm (Hà Nội), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), nuôi gấu ở nhiều địa phương như (Hà Nội, Hà Tây cũ, Hòa Bình, Sơn La; nuôi nhím, don ở Ba Vì (Hà Nội), Cúc Phương (Ninh Bình), Công ty Thụy Phương (Hà Nội), Thị xã Sơn La (Sơn La), Cát Bà (Hải Phòng), nuôi ba ba ở nhiều địa phương như Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh,…. Tuy nhiên, nghề chăn nuôi ĐVHD ở nước ta đang bộc lộ nhiều bất cập: Việc chăn nuôi chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, chưa trở thành một ngành sản xuất hàng hoá; việc lựa chọn loài chăn nuôi thiếu định hướng; thiếu sự hướng dẫn, quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương; người chăn nuôi còn gặp nhiều rủi ro vì thiếu hiểu biết về sinh học, sinh thái loài, về kỹ thuật chăn nuôi. Vì vậy, phương pháp chăn nuôi đơn giản, nuôi nhốt là chủ yếu, chuồng nuôi chưa phù hợp với đặc điểm sinh học, sinh thái và nhu cầu của vật nuôi, chưa có biện pháp phòng và chữa bệnh hữu hiệu, chưa biết áp dụng công nghệ tiên tiến trong nhân nuôi,.

Đặc biệt, do chưa có quy trình quản lý đàn giống bố mẹ hợp lý, dẫn đến hiện tượng cận huyết, thoái hoá đàn giống, ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển sinh lý vật nuôi, giảm năng xuất và chất lượng sản phảm. Các dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thú y trong nhân nuôi ĐVHD hầu như chưa có nên hạn chế nhiều đến kết quả gây nuôi của các cơ sở. Cơ sở pháp lý của nghề nhân nuôi động vật hoang dã Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm quản lý và phát triển nghề gây nuôi động vật hoang dã, kể cả các loài động vật quý hiếm, một số văn bản quan trọng như: • Nghị định 18/HĐBT, ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính phủ đã qui định danh mục các loại động vật rừng, thực vật rừng quí, hiếm và qui chế quản lý, bảo vệ. Theo tinh thần của các nghị định này: - Nhà nước cho phép khai thác hạn chế các loài động vật quí hiếm thuộc nhóm IIB phục vụ mục đích gây nuôi, nghiên cứu khoa học, trao đổi quốc tế về giống.

nhưng phải được phép của Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) (Điều 8, khoản 2c). - Đối với động vật rừng thuộc nhóm IIB do tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn nuôi trồng, ngoài mục đích sử dụng gây nuôi làm giống, được sử dụng động vật sống từ thế hệ hai trở đi (Điều 9, khoản c). • Chỉ thị số 359-TTg, ngày 29/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển động vật hoang dã quy định: Nhà nước khuyến kích các tổ chức, cá nhân gây nuôi phát triển các loài động vật hoang dã, bao gồm cả động vật quí hiếm để kinh doanh, xuất khẩu và phải thực hiện đúng qui định của Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992 và các qui định hiện hành, đúng công ước CITES. • Nghị định 11/2002/NĐCP, ngày 22/1/2002 của Chính phủ về Quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu và quá cảnh các loài động, thực vật hoang dã qui định: Trại nuôi sinh sản hoặc cơ sở gây trồng nhân tạo các loài động vật, thực vật được qui định trong phụ lục I của Công ước CITES phải đăng ký LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 với cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam (Điều 6); trại nuôi sinh sản và cơ sở trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật qui định trong phụ lục II và III của Công ước CITES phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm cấp tỉnh được cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam uỷ quyền (Điều 7).

• Chỉ thị số 1284/CT-BNN-KL ngày 11/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường công tác quản lý các trại nuôi sinh sản, sinh trưởng và cơ sở trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã. • Công văn số 3270/BNN-KL ngày 6/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về việc tăng cường công tác quản lý các cơ sở gây nuôi và trồng cấy nhân tạo động vật và thực vật hoang dã. Các loài dúi ở Việt Nam Việc khảo sát vùng phân bố của các loài dúi ở Việt Nam được tiến hành phối hợp trong đợt khảo sát nghiên cứu thú nói chung (Lê Hiền Hào 1973, Cao Văn Sung và cs. 1980, Đào Văn Tiến 1985, Đặng Huy Huỳnh và cs.

Cho đến nay, ở Việt Nam đã thống kê được 4 loài dúi: • Dúi nâu - Cannomys badius (Ảnh 1. Dúi nâu (Cannomys badius) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Loài cỡ nhỏ trong họ Dúi. Dài thân-đầu: 175- 215 mm, dài bàn chân sau: 27-32 mm, dài đuôi: 54-67mm, dài tai: 5-11mm, khối lượng thân: 210 – 340 g (Smith et al. Cơ thể thích nghi với đời sống dưới đất.

Mắt và tai nhỏ, đuôi ngắn. Chân có móng sắc và ngắn. Bộ lông dày và mền. Mặt lưng có màu nâu xám nhạt, mặt bụng có lông thưa, màu nhạt hơn.

Bàn chân trước và chân sau màu nâu. Đuôi ngắn hơn 1/3 chiều dài thân, trần không phủ lông. Dúi nâu rất hiếm gặp, cho đến nay mới phát hiện được ở Lai Châu. • Dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus) Ảnh 1.

Dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus) Là loài lớn trong họ Dúi. Dài thân-đầu: 200- 398 mm, dài bàn chân sau: 39- 55 mm, dài đuôi: 60-198 mm, dài tai: 15-25 mm, khối lượng: 1.500g (Đặng Huy Huỳnh và cs. Cơ thể khoẻ, đầu ngắn hầu như không có cổ. Mắt nhỏ, tai và đuôi ngắn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi dúi mốc lớn Rhizomys pruinosus" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học và kỹ thuật nuôi dưỡng loài dúi mốc lớn, một loài động vật có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học, môi trường sống và nhu cầu dinh dưỡng của loài dúi mốc lớn, mà còn đưa ra các phương pháp nuôi dưỡng hiệu quả, từ đó góp phần vào việc phát triển bền vững ngành chăn nuôi động vật hoang dã.

Để mở rộng kiến thức về các loài động vật và thực vật khác trong hệ sinh thái Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh thái ốc cà na tomlinia frausseni, nơi cung cấp thông tin về sinh thái của một loài ốc đặc trưng tại Trà Vinh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu bảo tồn loài xá xị cinnamomum parthenoxylon sẽ giúp bạn hiểu thêm về các biện pháp bảo tồn loài thực vật quý hiếm này. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở khu bảo tồn loài sến tam quy sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về sự đa dạng sinh học trong khu bảo tồn, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ sinh thái Việt Nam.