Chương 1 tæng quan vÒ vÊn ®Ò nghiªn cøu 1. Phương pháp xác định mô đun đàn hồi của đất nền đường Để xác định mô đun đàn hồi E của đất nền đường có thể dùng thí nghiệm nén mẫu hình trụ trong phòng thí nghiệm hoặc nén tấm ép ngoài hiện trường. - Ở các nước XHCN và Liên Xô cũng như Quy trình thiết kế áo đường mềm của Việt Nam quy định phải xác định mô đun đàn hồi của đất nền bằng cách đo ép tại hiện trường hoặc tại các máng thí nghiệm với tấm ép lớn trong thời kỳ bất lợi (đường kính tấm ép từ 30 – 34cm). Tại hiện trường, sau khi lắp đặt thiết bị xong thì tiến hành gia tải đến tải trọng P lớn nhất (từ 2 - 2,5daN/cm2) và giữ tải trọng đó trong 2 phút rồi dỡ tải trọng cho đến khi biến dạng phục hồi hết (đây là bước gia tải chuẩn bị).
Bước vào thí nghiệm chính thức, việc gia tải được thực hiện với 3 – 4 cấp cho đến tải trọng P là cấp cuối cùng. Khi gia tải ở mỗi cấp cấp đợi biến dạng ổn định ta dỡ tải và đợi biến dạng phục hồi ổn định thì ghi số đọc ở chuyển vị kế để tính ra trị số biến dạng đàn hồi tương ứng với các tải trọng đó. Sau đó tiếp tục gia tải và dỡ tải cấp tiếp theo. Bước tiếp theo là vẽ đường quan hệ giữa biến dạng phục hồi và tải trọng.
Trị số mô đun đàn hồi thí nghiệm được tính bằng công thức (1.1) 4 Trong đó: λ - biến dạng đàn hồi đo được khi thực nghiệm tương ứng với cấp tải trọng P (P = 2 – 2,5daN/cm2), cm; D- đường kính tấm ép, cm; μ - hệ số Poisson (hệ số tính đến đặc điểm của đất và điều kiện thí nghiệm), với đất nhỏ hạt, nén mẫu nở hông hạn hạn chế μ = 0,35. Trong trường hợp không thể đo ép tại hiện trường được thì có thể xác định trị số mô đun đàn hồi của đất nền theo kết quả thí nghiệm trong phòng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bằng phương pháp nén một trục nở hông tự do. Đặc biệt, khi không đo ép vào thời kỳ bất lợi nhất được thì có thể chế bị mẫu ở độ ẩm bất lợi tính toán để thí nghiệm. Trong phòng thí nghiệm, dùng mẫu hình trụ tròn có kích thước đường kính bằng chiều cao và bằng 5cm, mẫu có thể lấy nguyên trạng tại nền đường vừa thi công xong hoặc tại nền đường cũ (trường hợp thiết kế tăng cường áo đường cũ) tương ứng với thời gian bất lợi về độ ẩm; mẫu cũng có thể chế bị trong phòng bằng đất dùng để xây dựng nền đường hoặc bằng đất lấy ở nền đường cũ về sao cho có độ chặt bằng độ chặt thực tế khi nền làm việc và có độ ẩm tính toán.
Mẫu được ép trên máy nén với bản ép có đường kính bằng đường kính mẫu và không có khuôn (nén một trục cho nở hông tự do). Tăng tải một cấp cho đến trị số 2 – 2,5daN/cm2, sau đó dỡ tải và đo biến dạng đàn hồi λ. Khi gia và dỡ tải đều đợi đến lúc biến dạng ổn định (biến dạng không quá 0,01mm/5phút) mới đọc và ghi trị số biến dạng. Tính trị số mô đun đàn hồi thí nghiệm ETN theo công thức (1.H ETN , daN/cm2 (1.2) Trong đó: P – áp lực tác dụng lên mẫu khi nén, P = 2 – 2,5daN/cm2; H - chiều cao mẫu, cm; λ - biến dạng đàn hồi tương ứng với áp lực P, cm.
- Cũng theo quy trình của Việt Nam, trị số mô đun đàn hồi thí nghiệm của đất nền có thể được xác định theo phương pháp nén lún có hạn chế nở hông bằng máy nén đòn bẩy, nhất là trong trường hợp đất kém dính, không đúc được mẫu để ép theo cách nở hông tự do như trên. Theo phương pháp này, mẫu được chế bị và khi thí nghiệm mẫu được đặt trong khuôn hình trụ có đường kính không nhỏ hơn 4 lần và chiều cao không nhỏ hơn 3 lần so với đường kính tấm ép (đường kính tấm ép thường dùng từ 4 – 5cm). Tải trọng được truyền qua tấm ép đặt ở trung tâm mẫu và chất tải theo theo từng cấp (từ 3 – 4 cấp) cho đến cấp lớn nhất là P = 2 – 2,5daN/cm2. Cứ mỗi cấp, đợi cho biến dạng ổn định lại dỡ tải và cũng đợi cho biến dạng phục hồi sau mỗi cấp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trị số mô đun đàn hồi thí nghiệm của mẫu đất được xác định theo công thức (1.3) 4 Trong đó: λ - biến dạng đàn hồi đo được tương ứng với cấp tải trọng P, cm; D- đường kính tấm ép, cm; μ - hệ số Poisson, được lấy bằng 0,35. Mô đun đàn hồi tính toán của đất nền được điều chỉnh theo công thức: E = Kđc. ETN, daN/cm2 (1.4) Trong đó: ETN – trị số mô đun đàn hồi thí nghiệm trong phòng, daN/cm2; Kđc - hệ số điều chỉnh xác định theo toán đồ đã cho. - Ở Mỹ, để tính toán kết cấu áo đường người ta sử dụng chỉ tiêu Mô đun đàn hồi hữu hiệu MR (Resilient Modulus) của đất nền.
Việc xác định Mô đun đàn hồi hữu hiệu MR của đất phải thông qua thí nghiệm, theo hướng dẫn của AASHTO T274 – 82 có thể tóm tắt như sau: một hiệu ứng suất dọc trục gây nên bởi tải trọng lặp lại có độ lớn, chu kỳ và tần số cố định được đặt lên một mẫu thí nghiệm hình trụ. Trong khi và giữa các lần đặt tải, mẫu thí nghiệm chịu một ứng suất tĩnh xung quanh được tạo bởi một buồng nén 3 trục. Biến dạng dọc trục (phục hồi được) của mẫu sẽ được đo đạc và dùng để tính toán mô đun đàn hồi phụ thuộc ứng suất động. Thí nghiệm mô đun đàn hồi động cho ta một phương tiện nhằm đánh giá đất nền đường trong những điều kiện môi trường và trạng thái ứng suất mô phỏng gần giống như thật các điều kiện làm việc của đường khi chịu tải trọng xe chạy [5].
- Ở Châu Âu, trong thí nghiệm nén tấm ép tại hiện trường người ta xây dựng được đường cong quan hệ áp lực - độ lún. Khi đó có nhiều quan điểm khác nhau về việc lựa chọn mô đun biến dạng theo theo đường cong ép lún của lần chất tải thứ nhất Ev1 hay của lần thứ hai Ev2 để đánh giá khả năng chịu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tải của đất nền. Ở đường cong chất tải lần đầu khó lựa chọn phạm vi đường cong để tính Ev1, bởi vì đường cong chất tải lần đầu có rất nhiều dạng khác nhau, đường cong này rất cong hoặc theo dạng chữ S và thường không có đoạn thẳng. Tại Thụy Sỹ, ngoài tấm ép đường kính 30cm người ta còn dùng tấm ép đường kính 15cm, đại lượng đặc trưng quan trọng là mô đun nén tổng cộng Mz xác định theo công thức (1.5) S Mô đun nén tổng cộng Mz xác định bằng đường cong đầm nén thứ nhất.
Mô đun biến dạng Ev theo lý thuyết khi thí nghiệm với các tấm nén đường kính khác nhau phải luôn luôn có giá trị như nhau. Nhưng điều đó chỉ xảy ra khi đất đem thí nghiệm hoàn toàn đàn hồi (ví dụ chất tải lặp lại nhiều lần), còn khi chất tải lần đầu (Ev1) ngoài biến dạng đàn hồi còn có biến dạng do nén chặt và biến dạng chảy dẻo cũng xuất hiện đồng thời. Do vậy, đề nghị dùng tấm ép có đường kính 60cm (đặc biệt là đối với đất yếu) nhằm mục đích san bằng hay triệt giảm hưởng của những yếu tố không có quy luật. Ảnh hưởng của độ lớn tấm ép đến mô đun biến dạng đặc biệt rõ nếu nền không đồng nhất, trong trường hợp này chiều sâu tác dụng của tấm ép (thường bằng khoảng 1,5 đến 2 lần đường kính tấm ép) có vai trò quan trọng, độ lún của tấm ép lớn chịu ảnh hưởng bởi các lớp đất nằm phía dưới.
Trong tính toán mặt đường ô tô Ev2 phải dùng tấm ép có chiều sâu tác dụng tương đương chiều dày kết cấu áo đường. Về vấn đề này, ở Pháp người ta sử dụng tấm ép có đường kính 60cm và tiến hành thí nghiệm theo trình tự sau: Chu kỳ đặt tải đầu tiên, tải trọng được chất lên tấm ép với tốc độ 80daN/s cho tới khi thu được một áp lực trung bình dưới tấm ép là 2,5bars (tương ứng với một tải trọng tổng cộng 7065daN); khi đạt được áp lực này thì đợi cho độ biến dạng ổn định, sau đó dỡ tải trong vòng 2 – 3 giây. Ở chu kỳ đặt tải thứ 2, cũng giống như chu kỳ đầu: đặt tải lên tấm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ép với tốc độ 80 daN/s cho tới khi thu được một áp lực trung bình dưới tấm ép là 2,0bars (tương ứng với một tải trọng tổng cộng 5650daN), chờ khi độ lún ổn định thì tiến hành dỡ tải. Sau mỗi chu kỳ đều ghi giá trị độ lún W1 (chu kỳ đầu) và W2 (chu kỳ sau).
Từ các kết quả đo được, ta tính toán mô đun của một trong hai chu kỳ đặt tải theo công thức chung tính độ lún tổng cộng trên bề mặt của mỗi khối vô hạn, đồng nhất và đàn hồi chịu một tải trọng trên một tấm tròn cứng [10]: 1,5.6) Ev Trong đó: W - độ lún của khối đất ở dưới tấm ép, mm; Ev – mô đun biến dạng của đất dưới tấm ép, bars; Q – áp lực nén gây biến dạng của đất dưới tấm ép, bars; μ - hệ số Poisson bằng 0,35. Xét tới các giá trị của áp lực trung bình thu được và coi biểu thức (1 – μ2) = 1 thì các mô đun biến dạng trong lần đầu tiên và lần thứ 2 được tính theo (1. Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mô đun đàn hồi của đất - Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố như loại đất, độ ẩm, độ chặt đến các đặc trưng về cường độ của đất, các nhà khoa học Nga dựa vào các kết quả thực nghiệm đã biểu diễn gần đúng sự phụ thuộc bằng đa thức có dạng như (1.8) Trong đó: A,B,C,D – các thông số của phương trình phụ thuộc vào loại đất, độ chặt của đất (được xác định trên cơ sở thực nghiệm), tra bảng 1.1; E – mô đun đàn hồi của đất, daN/cm2; c – cường độ lực dính kết của đất, daN/cm2; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 0 – góc nội ma sát của đất, độ; W – độ ẩm của đất, %.1: Các thông số cho phương trình (1.