Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực trong trƣờng đại học ở nƣớc ta trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại trƣờng Đại học Khoa học – ĐHTN trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực tại trƣờng Đại học Khoa học – ĐHTN trong thời gian tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở NƢỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Các khái niệm liên quan đến chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm về đào tạo Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã nhấn mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Thật vậy, ngày nay đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Vậy đào tạo là gì? Xung quanh vấn đề này có nhiều khái niệm khác nhau nhƣ: - Đào tạo là một quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân ngƣời học, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. - Đào tạo là cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp đƣợc giao. - Đào tạo là một quá trình học tập lý luận và kinh nghiệm để tìm kiếm một sự biến đổi về chất tƣơng đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện công việc. Nhƣ vậy có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo nhƣng nhìn chung các quan niệm này đều có điểm chung là đào tạo là một quá trình cung cấp cho ngƣời học những kiến thức, kỹ năng để họ có thể hoàn thành công việc của mình.
Quan niệm về chất lượng Chất lƣợng là một khái niệm đa chiều, đƣợc nhiều tác giả đề cấp đến theo các cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một vài định nghĩa về chất lƣợng: - Theo tiêu chuẩn của Nhà nƣớc Liên xô: “Chất lượng là tổng thể những thuộc tính của nó quy định tính thích dụng của sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với công dụng của nó”. Nhƣ vậy, theo quan niệm này thì chất lƣợng đƣợc xuất phát từ các thuộc tính đặc trƣng của sản phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp phải bán thứ mà thị trƣờng cần nên có một số quan niệm khác về chất lƣợng trên góc độ ngƣời tiêu dùng nhƣ: - Tổ chức kiểm tra chất lƣợng Châu Âu (European Organization for Quanlity Control) cho rằng: Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với yêu cầu của người tiêu dùng.
Gosby (ngƣời Mỹ) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định. - Theo ISO 8402:1994 thì chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn. - Theo ANSI (American National Stands Institute) và ASQ (American Society for Quanlity) thì chất lượng là tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Nhƣ vậy, chất lƣợng là một khái niệm phức tạp.
Có nhiều quan niệm khác nhau về chất lƣợng tùy theo góc độ của ngƣời quan sát nhƣng các quan niệm đều có chung ý tƣởng: chất lƣợng là sự thỏa mãn một yêu cầu nào đó của ngƣời sử dụng (khách hàng). Từ đó chúng ta thấy chất lƣợng phải có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Chất lƣợng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con ngƣời. - Chất lƣợng là tập hợp các đặc tính của thực thể để thỏa mãn nhu cầu. Vì vậy khi đánh giá chất lƣợng ta phải xét đến đặc điểm của thực thể liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
- Chất lƣợng là sự phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, nếu thực thể đáp ứng đƣợc các tiêu chuẩn nhƣng không phù hợp với nhu cầu, không đƣợc thị trƣờng chấp nhận thì vẫn coi là không chất lƣợng. - Chất lƣợng phải gắn với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trƣờng về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục, tập quán. - Chất lƣợng phải đƣợc đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu trên các phƣơng diện: tính năng của sản phẩm, giá thỏa mãn, thời điểm cung cấp, dịch vụ, an toàn… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quan niệm về chất lượng đào tạo Chất lƣợng đào tạo là một vấn đề đƣợc các trƣờng quan tâm, xung quanh vấn đề này cũng có nhiều quan niệm khác nhau: (i) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu vào” Theo quan điểm của một số nƣớc phƣơng Tây thì chất lƣợng của một trƣờng học phụ thuộc vào chất lƣợng hay số lƣợng đầu vào của trƣờng đó. Theo quan điểm này thì nguồn lực chính là chất lƣợng, nghĩa là các trƣờng đƣợc xem là có chất lƣợng cao nếu tuyển sinh đƣợc sinh viên giỏi, cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đƣờng. Vậy quan điểm này đã bỏ qua quá trình đào tạo diễn ra trong thời gian dài trong nhà trƣờng. Đây là quan điểm xem quá trình đào tạo là “hộp đen”, chỉ dựa vào đánh giá “đầu vào”, không quan tâm đến chất lƣợng “đầu ra”.
Quan điểm này sẽ khó giải thích đƣợc tại sao một nhà trƣờng có đầu vào cao nhƣng hoạt động đào tạo hạn chế, sinh viên tốt nghiệp chƣa chắc đã xuất sắc và một trƣờng có đầu vào khiêm tốn nhƣng sinh viên đƣợc cung cấp một chƣơng trình đào tạo hiệu quả, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc. (ii) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra” Theo quan điểm này chất lƣợng đào tạo đƣợc đánh giá bằng “đầu ra” của quá trình đào tạo, đƣợc thể hiện thông qua năng lực của sinh viên tốt nghiệp. Xung quanh quan niệm này vẫn nảy sinh hai vấn đề: một là không xem xét mối liên hệ giữa “đầu vào” với “đầu ra”. Thực tế thì mối liên hệ này là có thực, tuy không phải là quan hệ nhân quả.
Thứ hai là cách đánh giá “đầu ra” của các trƣờng cũng rất khác nhau. (iii) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng” Quan điểm này cho rằng một trƣờng có tác động tích cực tới sinh viên nếu tạo ra sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và cá nhân của sinh viên. “ Giá trị gia tăng” xác định bằng cách lấy giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”. Nhƣng nếu đánh giá chất lƣợng theo quan điểm này thì nảy sinh vấn đề là phải có thƣớc đo thống nhất để đánh giá chất lƣợng “đầu vào”, “đầu ra” cho các trƣờng vì hệ thống giáo dục của các trƣờng rất đa dạng.
Hơn nữa nếu thiết lập đƣợc thƣớc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đo chung thì “giá trị gia tăng” cũng không cung cấp thông tin để cải tiến quá trình đào tạo trong các nhà trƣờng. (iv) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị học thuật” Quan điểm này đánh giá chất lƣợng đào tạo chủ yếu dựa vào năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên. Tức là nếu một trƣờng có nhiều giáo sƣ, tiến sĩ, có uy tín khoa học thì đƣợc coi là có chất lƣợng cao. Nhƣng liệu chúng ta sẽ đánh giá năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên nhƣ thế nào khi xu hƣớng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phƣơng pháp luận ngày càng đa dạng.
(v) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng” Quan điểm này cho rằng chất lƣợng của một trƣờng đƣợc đánh giá thông qua “Văn hóa tổ chức riêng” là không ngừng nâng cao chất lƣợng đào tạo. Quan điểm này khó áp dụng trong giáo dục vì nó có nguồn gốc từ lĩnh vực công nghiệp và thƣơng mại. (vi) Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Kiểm toán” Đây là quan điểm coi trọng nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định. Theo họ, một cá nhân có đủ thông tin cần thiết để đƣa ra các quyết định về chất lƣợng chính xác thì sẽ có chất lƣợng.
Nhƣng thực tế, không phải nhà trƣờng nào có đầy đủ phƣơng tiện thu thập thông tin cũng đƣa ra quyết định tối ƣu.2 Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) hay còn đƣợc gọi là "nguồn lực con người " đƣợc hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nƣớc. Khái niệm "nguồn nhân lực” (Human resources) đƣợc sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nƣớc phƣơng Tây và ở một số nƣớc châu Á, khi khoa học "quản trị nguồn nhân lực" phát triển. Hiện nay khái niệm này đƣợc sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con ngƣời trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nƣớc ta, khái niệm “nguồn nhân lực” đƣợc nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có tài liệu chính thức nào đƣa ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 định nghĩa "nguồn nhân lực", mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về nguồn lực con ngƣời, về tài nguyên con ngƣời. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lƣợng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lƣợng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội. Trong các lý thuyết về "vốn", về "tăng trƣởng", thì NNL đều đƣợc coi là yếu tố hàng đầu, đảm bảo cho sự phát triển sản xuất và dịch vụ.
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm NNL dƣới nhiều góc độ khác nhau. Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có liên quan đến sự phát triển xã hội.