Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN Bất cứ một đề tài nghiên cứu nào cũng phải có lý luận. Chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lấy những vấn đề lý thuyết sau làm cơ sở lý luận: 1. 1 Lý thuyết giao tiếp Lý thuyết về giao tiếp là cơ sở đầu tiên giúp chúng tôi tìm hiểu đề tài này. Bởi “mời” cũng là một cách giao tiếp của con người – hay nói một cách khái quát thì “mời” là một trong rất nhiều nghi thức giao tiếp của con người.
Nghi thức này tồn tại và không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người nói chung. Vì vậy tìm hiểu về “lời mời” không thể tách rời nó với lý thuyết về giao tiếp. Lời mời sẽ được nghiên cứu như một hành vi ngôn ngữ giao tiếp của con người dùng để giao tiếp giữa người với người trong xã hội. Chúng ta nhận thấy người Mỹ có cách mời khác với người Trung Quốc, người Hàn Quốc có cách mời khác với người Úc, người Việt có cách mời khác với người Anh… Sự khác nhau giữa các cách mời ấy là ở chỗ mỗi con người sống ở mỗi dân tộc khác nhau mang những đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau; mỗi một dân tộc lại là một môi trường giao tiếp văn hóa xã hội rộng lớn nên khi giao tiếp với nhau, các thành viên giao tiếp chịu ảnh hưởng bởi môi trường giao tiếp mà mình sinh sống.
Vì lẽ đó, trong môi trường giao tiếp là môi trường văn hóa xã hội Việt, lời mời của người Việt sẽ mang những đặc trưng riêng có được quy định bởi những đặc điểm của môi trường văn hoá xã hội con người Việt. Có rất nhiều cách hiểu về giao tiếp. Giao tiếp, trên bình diện khái quát, đó là “sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo cách hiểu này, giao tiếp ngôn ngữ là “sự thông báo hay truyền đạt một số nội dung trong tư duy bằng ngôn ngữ”.
Chi tiết hơn, “giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa hai chủ thể giao tiếp diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định”. Và cũng theo cách hiểu này, giao tiếp bằng lời là quá 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình tương tác giữa hai hay một số người bằng ngôn ngữ. Ở nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu về một hành động ngôn ngữ – hành động mời, vậy nên chúng tôi chỉ quan tâm đến vấn đề giao tiếp ngôn ngữ – giao tiếp bằng lời (trong sự phân biệt với giao tiếp phi ngôn ngữ – phi lời). Theo những cách hiểu về giao tiếp như trên thì một cuộc giao tiếp bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tế được nói đến, hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống tín hiệu được sử dụng làm công cụ.
Chúng tôi xin trích dẫn lược đồ tổng hợp các yếu tố và các chức năng trong giao tiếp của Jakobson mà chúng tôi cho là đầy đủ nhất: Ngữ cảnh Chức năng quy chiếu Người phát Thông điệp Người nhận Chức năng biểu cảm Chức năng thi học Chức năng tác động. Tiếp xúc Chức năng đưa đẩy Mã Chức năng siêu ngôn ngữ Nhìn vào lược đồ trên chúng ta nhận thấy, để đảm bảo một cuộc giao tiếp hiệu quả, cần tính đến rất nhiều yếu tố. Hay nói cách khác, lý thuyết về giao tiếp quan tâm đến những vấn đề sau: 1.1 Nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp hay còn gọi là vai giao tiếp bao gồm người phát và người nhận. Người phát được gọi là vai người nói, người nhận được gọi là vai người nghe; trong quá trình giao tiếp sẽ có sự luân phiên thay đổi vai trò người nói và người nghe giữa các nhân vật giao tiếp.
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ có những đặc điểm về văn hóa, kinh nghiệm sống, hoàn cảnh giao tiếp, thói quen… đặc biệt là có chung 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với nhau những tri thức về đề tài sẽ được nói tới trong cuộc giao tiếp. Và cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp đều có ý định (mục đích), có niềm tin giao tiếp – tin rằng cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả như mình mong muốn. Nhưng trong cuộc giao tiếp ấy, không phải nhân vật giao tiếp muốn nói gì thì nói. Để cuộc giao tiếp diễn ra có hiệu quả thì nhân vật giao tiếp phải tiến hành lựa chọn theo cách trả lời cho được những câu hỏi như: nói cái gì, nói như thế nào – sử dụng loại câu gì, từ ngữ gì, âm thanh gì, ngữ điệu thế nào… trong đó nói gì và nói như thế nào là quan trọng như nhau (trong thực tế cuộc sống, nhiều khi nói như thế nào còn khó khăn và quan trọng hơn cả nói gì).
Và cũng để cuộc giao tiếp diễn ra, duy trì và phát triển theo chiều hướng dự định, nhân vật giao tiếp (người nói) phải nhận thức được chính bản thân mình trong quan hệ với người nghe (là quan hệ vị thế hay thân hữu), đồng thời phải đoán nhận được hình ảnh của người đối thoại – người nghe với tất cả thuộc tính về động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị xã hội, học vấn và hoàn cảnh trong đó giao tiếp diễn ra. Bởi trong giao tiếp luôn luôn là người nói và người nghe cụ thể gắn với một tình huống, thời gian, không gian cụ thể. Vì vậy để có một phát ngôn thỏa đáng, nhân vật giao tiếp không những phải xác định được vị thế của mình mà còn phải xác định được vị thế của người tham gia giao tiếp với mình. Khi đã xác định được vị thế của mỗi bên tham gia giao tiếp, nhân vật giao tiếp sẽ có cách xưng hô phù hợp với nhau – sự có mặt của các từ xưng hô là một trong những yếu tố hình thức quan trọng làm cho lời nói nói riêng và cuộc giao tiếp nói chung có tính lịch sự (trong sự đối lập với cách nói “trống không” – trong đa số trường hợp thường được coi là bất lịch sự).
Cũng như vậy, khi ai đó muốn mời một ai đó, thì mời như thế nào chính là điều mà người mời phải quan tâm đầu tiên. Đó là việc nhân vật giao tiếp (người mời) phải tính đến vị thế của mình và của người được mời để từ đó có sự lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp, đảm bảo tính lịch sự cho lời mời và hành động mời của mình để đạt kết quả giao tiếp cuối cùng là được người được mời đón nhận lời mời 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của mình với thái độ vui vẻ, niềm nở và thoải mái, chân thành. Việc mời ở đâu và vào thời gian nào cũng góp phần tăng hiệu quả mời mọc.2 Hiện thực được nói tới Hiện thực được nói tới chính là nội dung của các thông điệp trong lược đồ mà Jakobson đã đưa ra. Ở cái nhìn khái quát, hiện thực chính là cuộc sống, mà cuộc sống thì muôn hình muôn vẻ.
Vậy có phải tất cả cái muôn hình muôn vẻ ấy đều có thể trở thành nội dung của các thông điệp hay nói cách khác, có phải tất cả cái muôn hình muôn vẻ đều trở thành nội dung của các cuộc giao tiếp? Thực tế thì, bất cứ cái gì, chuyện gì cũng có thể là cái được nói tới. Điều quan trọng là cái gì ấy, chuyện gì ấy được nói như thế nào – nói với ai, lúc nào và ở đâu. Vì theo lý thuyết lịch sự thì có những nội dung, đề tài chỉ có thể đưa ra nói với người ngang hàng hoặc người dưới mà không thể nói với người trên. Mặt khác, lại có những hiện thực liên quan đến người trên, dù không muốn nhưng người ở vị thế dưới vẫn phải nói tới trong cuộc thoại.
Trong trường hợp đó, hiện thực được nói tới rất dễ vi phạm tính lễ phép, lịch sự. Lúc này, người ở vị thế dưới lại phải tính toán, cân nhắc lời ăn tiếng nói của mình sao cho lời nói vẫn biểu thị được sự lễ phép, lịch sự hoặc nó bị vi phạm ở mức độ thấp nhất. Chẳng hạn như việc phê bình, nhắc nhở một đồng nghiệp lớn tuổi hơn, có vị trí xã hội cao hơn so với mình thì việc “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” là cần thiết. Còn ở đề tài mà chúng tôi nghiên cứu, hiện thực được nói tới chính là những nội dung liên quan đến việc mời mọc.
Khi người ta mời nhau nghĩa là người ta giao tiếp với nhau, và mời nhau về chuyện gì, mời nhau làm gì chính là nội dung của những lời mời. Đó có thể là mời ăn, mời uống, mời chơi, mời xem, mời mua hàng, mời tham gia chương trình, mời tham dự hội thảo…; đơn giản hơn, có thể đó là những lời mời như: “mời anh vào nhà”, “mời anh ngồi xuống”, “mời anh uống nước”, “mời ở lại ăn cơm”, “mời ngày quay lại”… của chủ nhà khi có khách đến chơi. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi xã hội ngày càng phát triển, khi mà nhu cầu giao tiếp của con người trở thành một điều thiết yếu thì những lời mời cũng sẽ trở thành cầu nối làm tăng thêm mối quan hệ giữa người với người, và nội dung mời mọc cũng sẽ được mở rộng thêm.3 Hoàn cảnh giao tiếp Bất cứ một cuộc giao tiếp bằng lời nào cũng phải diễn ra trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Và tất cả những hiện thực nằm ngoài diễn ngôn tạo nên môi trường cho một cuộc giao tiếp được gọi là hoàn cảnh giao tiếp.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là ngữ cảnh văn hóa, bao gồm điều kiện xã hội, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng… ở thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp. Còn hiểu theo nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là ngữ cảnh tình huống – tình huống giao tiếp hay thoại trường. Tình huống giao tiếp có thể hiểu là môi trường xã hội và tâm lí mà ở một thời điểm nhất định, một không gian nhất định người ta tiến hành hoạt động giao tiếp.