Chương 1: Giới thiệu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỂ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Phát triển tài chính 2. Khái niệm phát triển tài chính Theo Feldman và Gang (1990) phát triển tài chính (còn được gọi là độ sâu tài chính) được định nghĩa là sự tăng trưởng về quy mô thực của khu vực tài chính trong mối quan hệ với GDP.
Hartmann và các cộng sự (2007) cho rằng hiệu quả của hệ thống tài chính chính là hệ thống trung gian, thị trường và hạ tầng cơ sở mà qua chúng khu vực hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ có thể nhận được nguồn tài trợ cho các hoạt động của họ và đầu tư những khoản tiết kiệm. Hệ thống này được ảnh hưởng tích cực bởi phát triển tài chính. Phát triển tài chính là quá trình cải cách tài chính và nâng cao hoạt động của các tổ chức trong hệ thống tài chính nhằm làm giảm thông tin bất cân xứng, tăng tính hoàn hảo của thị trường tạo thêm khả năng cho các đối tượng trong nền kinh tế thực hiện được các giao dịch tài chính thông qua các hợp đồng, giảm thiểu chi phí giao dịch và tăng cạnh tranh. Adnan (2011) chỉ ra rằng phát triển tài chính có thể được định nghĩa là các chính sách, các nhân tố và các định chế dẫn đến các hoạt động trung gian hiệu quả và các thị trường tài chính hữu hiệu.
Một hệ thống tài chính mạnh sẽ cho phép đa dạng hóa rủi ro và phân bổ vốn hiệu quả. Phát triển tài chính càng mạnh thì việc dịch chuyển và phân bổ các khoản tiết kiệm vào các dự án sinh lợi càng cao. Đo lường phát triển tài chính Adnan (2011) cho rằng phát triển tài chính có thể được đo lường bằng nhiều nhân tố bao gồm độ sâu, quy mô, khả năng tiếp cận và sự vững vàng của hệ thống tài chính. Nó cũng có thể được đo lường bằng cách xem xét hiệu quả và hoạt động của thị trường tài chính, ngân hàng, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính.
Các quan sát cho thấy rằng một quốc gia có phát triển tài chính càng cao thì các dịch vụ tài chính tại quốc gia đó càng rộng. Một hệ thống tài chính phát triển sẽ cho phép lợi nhuận cao hơn với rủi ro thấp hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Adnan (2011) cũng chỉ ra rằng mức độ bất cân xứng của thông tin sẽ giảm cùng với sự phát triển của tài chính. Một hệ thống tài chính đã phát triển sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính đặc trưng và các hoạt động hiệu quả giúp cho hệ thống thông tin của thị trường giảm tính bất cân xứng.
Các nhà đầu tư có thể tin tưởng hơn vào hệ thống dự báo của các trung gian tài chính trong một hệ thống tài chính đã phát triển. Bằng cách này, giá trị và độ tin cậy của thông tin sẽ làm tăng thêm đầu tư xã hội. Một cách đo lường phát triển tài chính là sử dụng tỷ lệ tín dụng ngân hàng cộng tài sản quốc nội của ngân hàng trung ương. Nhưng tỷ lệ này không thống nhất giữa các nước đang phát triển vì các vấn đề trong đo lường và định nghĩa (Levine, 1997).
Liu và Woo (1994) đã gợi ý sử dụng sử dụng tỷ lệ giá trị tài sản tài chính dài hạn trên giá trị tài sản tài chính ngắn hạn như một công cụ để đo lường mức độ phức tạp của tài chính. Trong đó, cung tiền M1 được sử dụng như giá trị tài sản tài chính ngắn hạn. M2 được sử dụng như giá trị tài sản tài chính dài hạn. Tỷ lệ cung tiền mở rộng trên cung tiền hẹp (M2/M1) sẽ có mối quan hệ đồng biến với mức độ phát triển tài chính của một quốc gia.
Một cách đo lường khác được gọi là “nợ phải trả gần lỏng” (quasi-liquid liabilities) được định nghĩa bởi King và Levine (1993b) là chênh lệch giữa tỷ lệ cung tiền mở rộng trên GDP và tỷ lệ cung tiền hẹp trên GDP. Tuy nhiên, phát triển tài chính không nhất thiết phải được đo lường bằng những chỉ số phức tạp, mà nó thường được đo lường một cách truyền thống bằng các chỉ số định lượng dựa trên cung tiền và tổng tín dụng. Mặc dù các chỉ số này không cho phép tiếp cận một cách chính xác sự phát triển tài chính của một quốc gia (Lynch, 1996), đó là những chỉ số duy nhất có thể có được trong các nghiên cứu về tiền tệ được sử dụng trong các thống kê của IMF, đặc biệt là cho các nước đang phát triển. Chỉ số đơn giản nhất để đo lường phát triển tài chính là tỷ lệ cung tiền trên GDP, vốn được dùng dùng để đo lường mức độ tiền tệ hóa trong nền kinh tế.
Tỷ lệ M2/GDP đo lường quy mô tổng thể của khu vực trung gian tài chính và có tương quan chặt chẽ với cả mức độ và tỷ lệ thay đổi của GDP. Mặc khác, theo King và Levine (1993b) M1/GDP không có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ tăng trưởng kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tuy công cụ này không cho thấy mức độ đầy đủ của trung gian tài chính, cung tiền mở rộng M2 trên GDP vẫn thường được xem là một công cụ đo lường quy mô của khu vực tài chính khi có sự thiếu hụt dữ liệu về các tài sản tài chính khác. Tăng trưởng kinh tế 2.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế Theo Durlauf và Blume (2010), tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bởi sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người. Các mô hình và những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Một số mô hình lý thuyết sau đây đã được áp dụng để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế: Mô hình tân cổ điển. Mô hình tăng trưởng nội sinh. Mô hình bẫy đói nghèo.
Mô hình tân cổ điển Mô hình đặc trưng đầu tiên có thể nhắc đến là mô hình tăng trưởng tân cổ điển được phát triển trong các nghiên cứu của Barro và Sala-i-Martin (1992), Cass (1965), Koopmans (1965), Solow (1956, 1957), và Swan (1956). Durlauf và Blume (2010) cho rằng hầu hết lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là về điểm cân bằng của một nền kinh tế cạnh tranh theo thời gian. Cụ thể, lý thuyết tập trung vào sự tích lũy của vốn, tốc độ phát triển dân số và công nghệ. Có hai kiểu cân bằng được nghiên cứu.
Một kiểu là cân bằng ngắn hạn của nền kinh tế khi tích lũy vốn, lực lượng lao động và công nghệ được xem như là cố định. Kiểu còn lại là cân bằng trong dài hạn khi mà cả ba yếu tố trên đều thay đổi. Điều quan trọng cần phải hiểu là cân bằng dài hạn hàm chứa cân bằng ngắn hạn qua các thời điểm, nhưng một chuỗi cân bằng ngắn hạn liên tục không tạo ra cân bằng dài hạn. Từ điều này, khi tính toán được cân bằng dài hạn các nhà kinh tế có thể kỳ vọng về một điểm cân bằng ngắn hạn trong tương lai.
Điểm cân bằng này được gọi là cân bằng kỳ vọng hợp lý. Các nghiên cứu chỉ ra rằng điểm cân bằng kỳ vọng hợp lý này không phải là bất biến. Thực tế, theo Lucas (1975) nó có thể mang tính chu kỳ. Tuy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nhiên, ngoại trừ trong những mô hình cực kỳ đơn giản, điểm cân bằng kỳ vọng hợp lý này thường ít được chú ý và đa phần các nghiên cứu tập trung vào điểm cân bằng dài hạn trong trạng thái ổn định hoặc tương đối ổn định.
Đây là một trong những lý do để lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển không thực sự là một lý thuyết về tăng trưởng. Việc xác định trạng thái ổn định của cân bằng dài hạn mà chỉ sử dụng phương pháp xu hướng lịch sử cũng là một sai lầm. Để xác định trạng thái này cần có nhiều nghiên cứu được thực hiện hơn là chỉ dựa vào lý thuyết. Trạng thái ổn định của cân bằng dài hạn không chỉ là một chuỗi các cân bằng ngắn hạn vì trong trạng thái cân bằng ngắn hạn, vốn, dân số và công nghệ đều bất biến.
Trong khi đó, trong dài hạn tất cả các yếu tố này đều biến động. Durlauf và Quah (1999) cho rằng ý nghĩa thực nghiệm quan trọng của mô hình tân cổ điển chủ yếu dựa trên hàm số sản xuất. Tuy nhiên, việc áp dụng các biến định lượng vào mô hình tùy thuộc vào các nhà nghiên cứu khác nhau. Mô hình tân cổ điển xây dựng hàm sản xuất với các giả định sau: chỉ có vốn vật lý là tích lũy, tăng trưởng dân số và công nghệ là ngoại sinh.
Với vốn vật lý khấu hao theo cấp số nhân, tích lũy vốn vật lý được giả định là theo một trong hai chiều hướng. Chiều hướng thứ nhất được nêu trong Solow (1956) và Swan (1956), cho rằng tỷ lệ tiết kiệm là một hằng số tính trên thu nhập. Chiều hướng thứ hai được nêu trong Cass (1965) và Koopmans (1965), cho rằng tiết kiệm trong nền kinh tế được xác định bởi một hàm số tối ưu hóa. Trong hàm số này, tích lũy vốn là phần còn lại của thu nhập sau khi trừ đi tiêu dùng và khấu hao.
Tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư được tính toán sao cho phúc lợi xã hội là cao nhất. Cả hai chiều hướng trên, Solow - Swan và Cass - Koopmans có cùng ý nghĩa không chỉ trong nền kinh tế tăng trưởng cân bằng và ổn định mà ngay cả trong nền kinh tế ít biến động. Cả hai chiều hướng trên đều có thể được áp dụng để tìm hiểu cách thức của sự tăng trưởng kinh tế. Theo Durlauf và Quah (1999), một trong những sự chỉ trích đối với mô hình tân cổ điển một biến vốn và nhiều biến ngoại sinh đó là biến công nghệ.
Trong các nghiên cứu với mẫu là nhiều quốc gia, biến công nghệ này làm cho kết quả nghiên cứu trở nên bất ổn. Nếu xem công nghệ là đồng nhất giữa các quốc gia thì điều này không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hợp lý so với thực tế. Mặc khác, nếu các nhà nghiên cứu cho biến công nghệ khác biệt quá nhiều giữa các quốc gia thì mô hình lý thuyết lại không thể giải thích về cách thức của tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia. Cuối cùng, nếu một nhà nghiên cứu nào đó cho biến công nghệ thay đổi theo từng điều kiện kinh tế cụ thể ở từng quốc gia, thì nhà nghiên cứu đó lại có vẻ như đang “làm đẹp” dữ liệu.