phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xóa đói giảm nghèo. Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở huyện Krông Bông. Giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện Krông Bông.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.1 Khái niệm về nghèo đói a. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế Đói nghèo và chống đói nghèo luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hƣng thịnh của đất nƣớc. Đói nghèo thƣờng gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị.
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lƣợng. Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá đúng tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng cũng nhƣ nhận dạng đƣợc hộ nghèo, đòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá nghèo tại từng thời điểm. Hiện nay chƣa có định nghĩa duy nhất về nghèo và chƣa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về nghèo. Đầu những năm 70, đói nghèo chỉ đƣợc coi là sự đói nghèo về tiêu dùng, với tƣ tƣởng cốt lõi và căn bản nhất để một ngƣời bị coi là nghèo đói đó là sự "thiếu hụt" so với mức sống nhất định.
Mức thiếu hụt này đƣợc xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian. Trong báo cáo phát triển con ngƣời năm 1997, Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói nghèo về năng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập. Theo đó, “nghèo khổ của con ngƣời là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con ngƣời - là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con ngƣời”. Luan van 8 Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới thì đƣa ra quan điểm: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vƣợt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất.
Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực nhƣ: dinh dƣỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thƣơng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. Cho đến nay, khái niệm nghèo đƣợc dùng nhiều nhất là khái niệm đã đƣợc đƣa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban Kinh tế & Xã hội của Châu Á – Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok – Thái Lan, quan niệm này đƣợc phát biểu nhƣ sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [16, tr. Đây là khái niệm tƣơng đối đầy đủ và bao quát, nên có thể coi đây là định nghĩa chung nhất và có tính hƣớng dẫn về phƣơng pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia. Đây là khái niệm đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam.
Quan niệm của Việt Nam Các nhà nghiên cứu và quản lý ở nƣớc ta thừa nhận và sử dụng khái niệm nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) đƣa ra. Bên cạnh đó, còn có một số khái niệm liên quan nhƣ hộ nghèo, hộ tái nghèo, xã nghèo, vùng nghèo. - Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một quá trình thực hiện chƣơng trình Xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn nghèo. - Hộ tái nghèo: Là hộ vốn dĩ trƣớc đây thuộc hộ nghèo và đã vƣợt nghèo nhƣng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo.
Ý nghĩa của khái niệm Luan van 9 này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá đói giảm nghèo. - Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo: Là những hộ ở đầu kỳ không thuộc danh sách hộ nghèo nhƣng đến cuối kỳ lại là hộ nghèo. Nhƣ vậy, hộ mới bƣớc vào danh sách hộ nghèo bao gồm những hộ nhƣ sau: Hộ nghèo chuyển từ nơi khác đến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lý do nào đó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tái nghèo. - Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu nhƣ: điện, đƣờng, trƣờng, trạm, nƣớc sạch v., trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
- Vùng nghèo: Là địa bàn tƣơng đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Để phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về đói nghèo, các nƣớc đã phân làm hai loại: Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng. Nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tƣơng đối.
Đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế nhƣng với tƣ cách là hiện tƣợng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, nghèo đói thực chất là hiện tƣợng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù các yếu tố đánh giá của nó trƣớc hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp XĐGN ở nƣớc ta. Phƣơng pháp xác định chuẩn nghèo a. Khái niệm về chuẩn nghèo Luan van 10 Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo.
Hầu hết chuẩn nghèo đƣợc tính dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những ngƣời đƣợc coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận đƣợc, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những ngƣời có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là ngƣời không nghèo hoặc đã vƣợt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lƣờng mức độ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam.
Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian. Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng hay từng quốc gia. Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con ngƣời theo từng giai đoạn lịch sử.
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lƣờng và giám sát nghèo đói. Một thƣớc đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nƣớc khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo hƣớng có lợi cho ngƣời nghèo. Phương pháp xác định chuẩn nghèo Để đánh giá đƣợc mức độ nghèo đói, cần phải đƣa ra các tiêu chí cụ thể. Tuy nhiên các tiêu chí xác định không cố định mà luôn có sự biến động và khác nhau không những giữa các nƣớc mà còn khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo của thế giới - Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Liên hợp quốc Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu ngƣời hay theo nhóm dân cƣ. Thƣớc đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận đƣợc trong thời gian nhất Luan van 11 định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trƣờng sống của dân cƣ mà chia đều cho mọi thành phần dân cƣ. Phƣơng pháp tính là: Đem chia dân số của một nƣớc, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo. Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4%.
Nhƣ vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất. - Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của WB Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu ngƣời trong một năm với 2 cách tính đó là: Phƣơng pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phƣơng pháp PPP (purchasing power parity), là phƣơng pháp tính theo sức mua tƣơng đƣơng và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas [7, tr.31], năm 1990 ngƣời ta chia mức bình quân của các nƣớc trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc cực giàu.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc giàu.000USD/ngƣời/năm là nƣớc khá giàu.000USD/ngƣời/năm là nƣớc trung bình.
+ Từ 500 đến dƣới 2.500USD/ngƣời/năm là nƣớc nghèo. + Dƣới 500USD/ngƣời/năm là nƣớc cực nghèo. Theo phương pháp PPP [11], theo phƣơng pháp thứ hai này, WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hóa, thực hiện phƣơng pháp tính "rổ hàng hóa" sức mua tƣơng đƣơng để tính đƣợc mức thu nhập dân cƣ giữa các quốc gia có thể so sánh.
WB đã tính mức năng lƣợng tối thiểu cần thiết Luan van 12 cho một ngƣời để sống là 2. Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lƣợng đó cần khoảng 1USD/ngƣời/ngày. Từ đó, năm 1995 WB đã đƣa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới 370USD/ngƣời/năm. Với mức trên WB ƣớc tính có trên 1,2 tỷ ngƣời trên thế giới đang sống trong nghèo đói.
Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nƣớc, hộ nghèo là hộ có thu nhập dƣới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế -xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia.