CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm có liên quan tới vấn đề nghiên cứu * Người lao động Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của xã hội thì con người cũng là lực lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, xã hội thay đổi và phát triển là nhằm mục tiêu phục vụ con người. Con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển của xã hội khi họ có điều kiện sử dụng quyền lao động của mình.
Quá trình kết hợp giữa sức lao động và điều kiện sản xuất ấy chính là quá trình lao động hay làm việc của con người. Theo đó, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người. Thông qua quá trình lao động sẽ giúp con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, đến lượt mình con người chính là lực lượng cải biến xã hội. Do đó, chiến lược phát triển nguồn lực con người nằm trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định, người lao động chính là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Bộ luật Lao động 2012: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.[7] Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật Việc làm: Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc.[8] 11 Như vậy, từ hai khái niệm trên, người lao động có những đặc điểm sau: - Là người từ đủ 15 tuổi trở lên. - Có khả năng lao động, đang làm việc theo hợp đồng lao động hoặc sẵn sàng làm việc. - Được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
* Việc làm Ở nước ta, trong thời kỳ kinh tế tập trung, khái niệm việc làm hết sức sơ cứng. Việc làm phải là những công việc đòi hỏi một chuyên môn nào đó, mang lại nguồn thu nhập nhất định. Người có việc làm phải thuộc biên chế nhà nước hoặc làm việc trong các hợp tác xã. Quan niệm như vậy về việc làm vô hình chung đã gây trở ngại cho việc tự do di chuyển, tự do hành nghề của người lao động, do đó hạn chế đáng kể việc phát huy sưc mạnh của nguồn nhân lực cũng như quá trình tăng trưởng và phát triển của xã hội.
Quan niệm về việc làm như trên đã không thừa nhận những người lao động đang làm việc ở một số khu vực sau: - Việc làm ở khu vực kinh tế tư nhân, cá thể, hộ gia đình. - Công việc nội trợ. Mặt khác, quan niệm trên cũng không phân biệt những người hiện trong guồng máy sản xuất nhưng tạm thời thiếu việc làm hoặc thực tế không có việc làm. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khái niệm việc làm đã có sự thay đổi.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Luật Việc làm: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.[8] Từ khái niệm này ta thấy, việc làm bao gồm 3 nội dung cơ bản: - Các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hay hiện vật. - Các công việc tự làm để tạo thu nhập hoặc thu lợi nhuận cho bản thân, cho gia đình mình. 12 - Không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy nếu một hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, nhưng bị pháp luật nghiêm cấm thì hoạt động lao động đó không được coi là việc làm (như trộm cắp, buôn bán hêrroin, mại dâm.) * Người có việc làm Người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, mang lại nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình.
Người có việc làm được chia làm hai dạng: + Người có việc làm đầy đủ: là người làm việc đủ thời gian quy định, có mức lương từ tối thiểu trở lên, không có nhu cầu đi làm thêm. + Người thiếu việc làm: là người có việc làm nhưng thời gian làm việc thấp hơn quy định, có nhu cầu làm thêm, thực chất đây là một dạng thất nghiệp. Trong điều tra Lao động - việc làm, người có việc làm bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên trong khoảng thời gian tham chiếu (một tuần), thuộc một trong các loại sau đây: - Làm việc được trả lương/trả công + Làm việc: những người trong thời gian tham chiếu đã làm một số công việc để được trả lương hoặc trả công bằng tiền hay hiện vật + Có việc làm nhưng không làm việc: những người hiện đang có việc làm, nhưng trong khoảng thời gian tham chiếu đang tạm thời nghỉ việc nhưng vẫn có những dấu hiệu còn gắn bó với việc làm của họ (như: vẫn được trả lương/trả công, được bảo đảm sẽ trở lại làm việc, có thoả thuận trở lại làm việc sau khi nghỉ tạm thời, v.) 13 - Tự làm hoặc làm chủ + Tự làm: những người trong thời gian tham chiếu đã tự làm một số công việc để có lợi nhuận hoặc thu nhập cho gia đình, dưới hình thức bằng tiền hay hiện vật + Có doanh nghiệp nhưng không làm việc: những người hiện đang làm chủ doanh nghiệp, có thể là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, một trang trại hoặc một cơ sở dịch vụ nhưng trong thời kỳ tham chiếu họ đang nghỉ việc tạm thời vì một số lý do cụ thể. * Thất nghiệp Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Thất nghiệp là tình trạng một số người ở độ tuổi lao động, có khả năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm.131] Nhìn chung, khái niệm này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp.
Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp nhưng ở nước ta bước đầu thất nghiệp được hiểu là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm. Phân loại thất nghiệp: - Theo lý do thất nghiệp: + Thất nghiệp tự nguyện :là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời. 14 + Thất nghiệp không tự nguyện là: thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động… + Thất nghiệp trá hình : hay thiếu việc làm là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
- Theo nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành: + Thất nghiệp tạm thời : là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con… + Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. + Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống.
Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề. Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động (có thể diễn ra ngay cả khi thị trường 15 lao động đang cân bằng).
Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. * Người thất nghiệp Từ khái niệm thất nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có thể đưa ra 4 tiêu chí để xác định người thất nghiệp đó là: + Người trong độ tuổi lao động, + Có khả năng lao động, + Đang không có việc làm, + Đang đi tìm việc làm. * Tạo việc làm Theo Trần Xuân Cầu:“Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước”.11] Như vậy, tạo việc làm không phải là một hoạt động mà là một chuỗi các hoạt động nhằm tạo ra môi trường làm việc với nhiều vị trí việc làm và sắp xếp người lao động phù hợp (nhu cầu, trình độ chuyên môn) với các vị trí đó nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc, đồng thời phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước. Như vậy, để tạo việc làm cho người lao động cần phải có sự kết hợp của các yếu tố sau: chủ thể tạo việc làm, tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và người lao động.
* Phân biệt giữa tạo việc làm và giải quyết việc làm - Sự khác nhau + Giải quyết việc làm nhấn mạnh tới việc kết nối NLĐ với thị trường lao động nhằm giúp NLĐ có việc làm. 16 + Tạo việc làm nhấn mạnh tới việc tạo ra các cơ hội việc làm mới và việc làm đầy đủ cho người lao động.