Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho lao động nông thôn Chương 2: Thực trạng về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2025. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm lao động Theo quan điểm của Các Mác đƣợc thì: “Lao động là quá trình diễn ra giữa con ngƣời và giới tự nhiên, là quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con ngƣời làm trung gian và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.
Tóm lại, lao động là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm tác động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. Con ngƣời lao động để tìm vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân. Khái niệm người lao động Theo khoản 1, Điều 3 Bộ luật Lao động 2019: “Ngƣời lao động là ngƣời làm việc cho ngƣời sử dụng lao động theo thỏa thuận, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của ngƣời sử dụng lao động”. Để định nghĩa cụ thể hơn, thì: “Ngƣời lao động là những ngƣời chấp nhận bỏ ra sức lao động để đổi lại một nguồn thu nhập nhất định dựa trên sức lao động đó, còn hay đƣợc biết đến là ngƣời làm công ăn lƣơng, bán sức lao lao động của mình cho ngƣời sử dụng lao động để kiếm đƣợc những nguồn lợi nhằm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của bản thân”.
Trong luận văn này, tác giả cho rằng, ngƣời lao động không chỉ bao gồm những ngƣời làm việc dƣới sự quản lý của ngƣời sử dụng hợp đồng lao động hay theo hợp đồng lao động. Ngƣời lao động còn là ngƣời làm những công việc cho hộ gia đình do hộ gia đình làm chủ sản xuất, không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền công. Khái niệm việc làm Theo Nguyễn Tiệp (2008) thì: “Việc làm là hoạt động lao động của con ngƣời, nhằm mục đích tạo ra thu nhập nhƣng không bị pháp luật ngăn cấm” [17]. Theo khoản 1, Điều 9, Bộ Luật lao động năm 2019: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”.
Dƣới góc độ pháp lý, việc làm đƣợc cấu thành bởi 3 yếu tố: - Thứ nhất, đây là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tƣ liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thƣờng xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy ngƣời có việc làm thông thƣờng phải là những ngƣời thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tƣơng đối ổn định. - Thứ hai, đây là hoạt động tạo ra thu nhập - Thứ ba, đây phải là hoạt động hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhƣng trái pháp luật, không đƣợc pháp luật thừa nhận thì không đƣợc coi là việc làm.
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nƣớc mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động đƣợc coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trƣng tính pháp lí của việc làm. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật. Theo ILO, việc làm là cơ sở giúp NLĐ đƣợc trả tiền công, lợi nhuận sau thời gian làm việc thông qua việc trao đổi sức lao động của họ trong quá trình làm việc.
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận Khái niệm việc làm là khái niệm đƣợc quy định trong khoản 1, Điều 9, Bộ luật Lao động 2019. Khái niệm tạo việc làm Theo Trần Xuân Cầu (2013): “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để ngƣời lao động có thể kết hợp giữa sức lao 11 động và tƣ liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trƣờng” [2]. Nhƣ vậy có thể hiểu tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố trên thông qua nó để ngƣời lao động tạo ra các của cải vật chất (số lƣợng, chất lƣợng), sức lao động (tái sản xuất sức lao động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác 1. Khái niệm thất nghiệp Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số ngƣời trong lực lƣợng lao động muốn làm việc nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức lƣơng thịnh hành.” Nhƣ vậy, thất nghiệp là tình trạng ngƣời lao động muốn có việc làm, nhƣng không có việc làm.
Ba đặc trƣng chủ yếu của ngƣời thất nghiệp là: có khả năng lao động, không có việc làm và đang tìm việc làm. Thất nghiệp xảy ra bởi nguyên nhân nằm ở sự thiếu hụt tổng cầu, tức tổng cầu quá thấp, không đủ để mua mức tổng cung toàn dụng, thì phƣơng pháp để cắt giảm thất nghiệp là sử dụng công cụ của các chính sách tài khóa và tiền tệ để làm tăng tổng cầu, qua đó làm tăng sản lƣợng và việc làm. Khái niệm thiếu việc làm Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thiếu việc làm nghĩa là ngƣời lao động trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dƣới mức quy định chuẩn cho những ngƣời làm việc đủ (bao gồm cả những ngƣời có nhu cầu làm thêm) Tình trạng thiếu việc làm là một tiêu chuẩn đánh giá công việc và tình hình sử dụng lao động trong nền kinh tế, đo lƣờng mức độ tận dụng lao động về mặt kĩ năng, kinh nghiệm và khả năng làm việc. Lao động thuộc nhóm thiếu việc làm bao gồm những ngƣời có tay nghề cao nhƣng đang làm công việc trả lƣơng thấp hoặc chỉ yêu cầu kĩ năng thấp, và những ngƣời làm việc bán thời gian mong muốn đƣợc làm việc toàn thời gian.
12 Tình trạng thiếu việc làm khác với thất nghiệp ở điểm ngƣời lao động vẫn có việc, và vẫn đang làm việc nhƣng không sử dụng đƣợc hết khả năng của mình. Một vài nguyên nhân giải thích cho tình trạng thiếu việc làm có thể kể đến nhƣ: nền kinh tế chậm phát triển, nguồn cung lao động tăng quá nhanh so với cầu lao động, tay nghề và trình độ của nhân công chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của các nhà tuyển dụng v. Khái niệm nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thƣờng bao quanh các đô thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp (nông, lâm, ngƣ nghiệp) đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của ngƣời dân thấp. Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong phú.
Nhƣ vậy, nông thôn có những đặc trƣng sau: - Nông thôn đƣợc hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã. Ở nông thôn, ngƣời dân thƣờng sinh sống bằng nông nghiệp là chủ yếu. - Nhìn chung, vùng nông thôn thƣờng là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân. Nông thôn thƣờng có mật độ dân số thấp hơn so với mật độ dân số tại khu vực thành phố, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trƣờng và sản xuất hàng hóa kém hơn.
Khái niệm lao động nông thôn Theo Nguyễn Tiệp (2007): “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những ngƣời có khả năng lao động 13 (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng tham gia lao động nhƣng chƣa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn” [18]. - Hiểu một cách đơn giản hơn, lao động nông thôn là những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. - Lao động nông thôn là những ngƣời dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những ngƣời đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt đƣợc một cách tốt nhất.
Các hình thức tạo việc làm 1. Tạo việc làm thông qua phát triển các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển KT-XH là một trong những nền tảng quan trọng nhất tác đông đến công tác tạo việc làm. Nền kinh tế đƣợc coi là gốc rễ của mọi vấn đề tại nhiều lĩnh vực ở mỗi quốc gia. Kinh tế kém phát triển sẽ dẫn đến những sự sa sút về hiệu quả đầu ra trong các lĩnh vực.
Ngƣợc lại, nền kinh tế phát triển tốt sẽ là tiền đề đảm bảo cho mọi việc, trong đó có công tác tạo việc làm cho NLĐ đƣợc diễn ra suôn sẻ. Hiện nay, hiểu đƣợc tầm quan trọng trong việc phát triển kinh tế, Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp nhằm phát triển kinh tế. Thông qua các chƣơng trình phát triển KT-XH, rất nhiều việc làm đã đƣợc tạo ra. Mỗi năm, đã có hàng vạn, thậm chí hàng triệu việc làm đƣợc tạo ra, góp phần giảm thiếu tỷ lệ lao động thất nghiệp, thiếu việc làm trên khắp cả nƣớc và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh trên khắp cả nƣớc.
- Chƣơng trình phát triển nông nghiệp, nông thôn 14 Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng nông nghiệp là một ngành quan trọng luôn có sự đầu tƣ trọng điểm. Không chỉ đầu tƣ vào các ngành trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản v.v… mà còn hƣớng đến việc phát triển toàn diện các ngành nhƣ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy hải sản, mở rộng diện tích nuôi trồng, kể cả nuôi thủy sản ở biển, xây dựng đồng bộ hạ tầng nghề cá,. và nhiều ngành nông nghiệp, công nghiệp khác.