Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt mức 3,79 trên thang điểm 10, xếp vị trí 11 trong tổng số 12 quốc gia châu Á được xếp hạng. Bên cạnh đó, chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Việt Nam đạt 3,02 điểm, đứng thứ 102 trên 133 quốc gia, trong khi năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2009 chỉ xếp hạng 75 trên 133 nền kinh tế. Mặc dù lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm khoảng 65% tổng dân số (tương đương khoảng 58 triệu người), chất lượng lao động kỹ thuật nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế năng động bậc nhất cả nước, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã xác định chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong 6 chương trình đột phá, tập trung bảo đảm nhu cầu lao động chất lượng cao cho 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 9 ngành dịch vụ mũi nhọn. Trong bức tranh đó, ngành in ấn là một ngành kỹ thuật phát triển vượt bậc với việc ứng dụng công nghệ số hóa và tự động hóa hiện đại. Tuy nhiên, công tác đào tạo nhân lực ngành in đang bộc lộ sự lệch pha nghiêm trọng so với tốc độ đổi mới công nghệ của các nhà máy sản xuất.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng công tác đào tạo, đánh giá các yếu tố cấu thành chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và chuẩn đầu ra tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngành in trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2012, tiêu biểu như Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật – Kinh tế Sài Gòn 3 và Trường Trung cấp nghề An Đức. Mục tiêu then chốt của đề tài là xác lập hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ phải đào tạo lại sau tuyển dụng xuống dưới mức 15% và nâng tỷ lệ hài lòng của doanh nghiệp lên trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa các lý thuyết quản trị chất lượng hiện đại và khoa học quản lý giáo dục:

  • Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) và Chu trình Deming (PDCA): Vận dụng luận điểm của Armand V. Feigenbaum (1950) và Terry Richardson (1997), coi chất lượng đào tạo là trách nhiệm xuyên suốt của toàn bộ hệ thống. Nghiên cứu áp dụng quy tắc 14 điểm và chu trình Kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Hành động (PDCA) của Edwards Deming, trong đó nhấn mạnh 94% các vấn đề chất lượng bắt nguồn từ quy trình và cơ chế quản lý chứ không đơn thuần do lỗi của cá nhân người học.
  • Mô hình Đảm bảo chất lượng giáo dục đa thành tố: Luận văn ứng dụng mô hình của B. Ellison (1977), phân định chất lượng trường học qua hai nhóm yếu tố tương đương: 50% thuộc về các yếu tố tác động (Lãnh đạo 10%, Quản lý con người 9%, Chính sách chiến lược 8%, Nguồn lực 9%, Quá trình 14%) và 50% thuộc về các yếu tố đầu ra (Sự hài lòng của phụ huynh 20%, Thành tích học tập 15%, Sự hài lòng của nhân viên 9%, Tác động xã hội 6%). Đồng thời, mô hình bối cảnh C-I-P-O (Context – Input – Process – Output) và hệ thống 21 tiêu chí của Wayne K. Miskel được khai thác để đánh giá tương quan giữa nguồn lực tài chính, công nghệ và hiệu quả giáo dục.
  • Các khái niệm then chốt: Nghiên cứu chuẩn hóa định nghĩa về Chất lượng in theo nghĩa rộng (khách thể đa chất lượng bao gồm nhân lực, máy móc, quy trình và môi trường); Chất lượng đào tạo theo chuẩn năng lực (gồm 5 cấp độ kỹ năng từ Bắt chước đến Thuần thục, 8 cấp độ nhận thức theo thang đo cải tiến và 4 cấp độ tư duy); Hiệu quả đào tạo ngoài (khả năng có việc làm đúng ngành nghề và sự phát triển bền vững của người học trong nền kinh tế thị trường).

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu và phân tích tài liệu: Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2000 – 2011 (thời điểm hệ thống đại học, cao đẳng tăng từ 153 lên 396 trường với 80 trường ngoài công lập), các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) và các chỉ số kinh tế ngành in.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành điều tra xã hội học bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng có mục đích trên quy mô 250 đối tượng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu khảo sát được chia thành 4 nhóm độc lập: học sinh sinh viên đang theo học nghề in, công nhân kỹ thuật đang trực tiếp đứng máy, đội ngũ giảng viên chuyên ngành và các nhà quản lý tại các doanh nghiệp in tiêu biểu như Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Sài Gòn 3 và Công ty TNHH In Ngọc Hoan. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện đa chiều từ khâu cung ứng giáo dục đến khâu sử dụng lao động.
  • Phương pháp phân tích và lộ trình thực hiện: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia để kiểm định độ tin cậy của dữ liệu. Kế hoạch nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua 8 giai đoạn từ tháng 03/2012 đến tháng 09/2012, bao gồm soạn thảo phiếu thăm dò, điều tra thực địa, xử lý số liệu và hoàn thiện các giải pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát thực tế tại các trường nghề và doanh nghiệp in ấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phản ánh 4 phát hiện quan trọng:

  • Sự lạc hậu về trang thiết bị thực hành và khung chương trình: Khoảng 68% học sinh sinh viên và giảng viên được khảo sát phản ánh rằng máy móc thực hành tại các cơ sở đào tạo còn thiếu thốn, chủ yếu là các dòng máy in một màu đời cũ hoặc thiết bị bán tự động. Trong khi đó, các doanh nghiệp in ấn thương mại đã chuyển đổi sang hệ thống máy in offset 4 màu đến 6 màu hiện đại và công nghệ ghi bản kỹ thuật số CTP.
  • Tỷ lệ đào tạo lại sau tuyển dụng ở mức báo động: Gần 72% đại diện doanh nghiệp in xác nhận phải tổ chức đào tạo lại hoặc bố trí kèm cặp tay nghề từ 3 đến 6 tháng cho công nhân kỹ thuật mới tốt nghiệp. Các lỗ hổng lớn nhất nằm ở kỹ năng kiểm soát độ cân bằng mực nước, kỹ thuật canh chỉnh chồng màu chính xác và khả năng xử lý sự cố thiết bị tự động.
  • Điểm nghẽn trong định hướng nghề nghiệp và động lực học tập: Dữ liệu cho thấy khoảng 54% học viên lựa chọn học nghề in do sự tình cờ hoặc thiếu thông tin định hướng chuyên môn rõ ràng từ trước, dẫn đến mức độ say mê nghề nghiệp ban đầu chưa cao và chỉ có khoảng 45% học viên đạt mức độ chủ động nghiên cứu quy trình công nghệ mới.
  • Nhu cầu hợp tác đào tạo chưa được hiện thực hóa: Có đến 82% doanh nghiệp bày tỏ sự sẵn sàng tiếp nhận học sinh thực tập và hỗ trợ kỹ thuật, song tỷ lệ các thỏa thuận hợp tác đào tạo chiến lược, dài hạn được ký kết và triển khai thực chất giữa nhà trường và doanh nghiệp mới chỉ đạt khoảng 26%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng đào tạo nhân lực ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa các khâu trong hệ thống quản lý. Chi phí đầu tư cho một dây chuyền in công nghiệp đạt chuẩn hiện đại thường lên tới hàng triệu USD, tạo ra rào cản tài chính quá lớn đối với ngân sách hạn hẹp của các trường trung cấp nghề. Điều này giải thích vì sao yếu tố Nguồn lực (chiếm 9% trong mô hình B. Ellison) và Quá trình đào tạo (chiếm 14%) đang là những mắt xích yếu nhất kìm hãm chất lượng đầu ra.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương thích với nhận định của Edwards Deming: việc công nhân in ấn làm sai hỏng sản phẩm khi tiếp cận máy móc mới không bắt nguồn từ năng lực cá nhân mà do hệ thống đào tạo chưa cung cấp đủ các chuẩn kỹ năng thao tác chuẩn hóa (Cấp độ 3) và kỹ năng thuần thục (Cấp độ 5). Toàn bộ dữ liệu thực trạng này được luận văn trực quan hóa thông qua hệ thống 19 biểu đồ chuyên biệt (từ Biểu đồ 3.1 đến Biểu đồ 3.18) và các bảng thống kê cơ cấu, minh chứng rõ nét cho khoảng cách giữa kiến thức lý thuyết trong giáo trình và năng lực vận hành thực tế tại các xưởng in công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tạo bước đột phá cho chất lượng đào tạo nhân lực ngành in:

  • Đổi mới khung chương trình và tài liệu giảng dạy theo định hướng tiếp cận năng lực:
    • Chủ thể thực hiện: Ban giám hiệu và Tổ bộ môn chuyên ngành tại các trường trung cấp, cao đẳng nghề.
    • Hành động: Tái cấu trúc tỷ lệ học tập, nâng thời lượng thực hành lên mức 65% – 70% tổng thời lượng khóa học; biên soạn lại giáo trình theo hướng cập nhật công nghệ in offset nhiều màu, in kỹ thuật số, kỹ thuật đóng gói bao bì và công nghệ quản trị màu sắc hiện đại.
    • Mục tiêu & Thời gian: Hoàn thành thẩm định và đưa vào áp dụng bộ giáo trình chuẩn hóa trước năm 2014, giúp 100% người học làm chủ các thao tác kỹ thuật cơ bản trước khi ra trường.
  • Thiết lập mô hình đào tạo kép gắn kết chặt chẽ giữa Nhà trường và Doanh nghiệp:
    • Chủ thể thực hiện: Các cơ sở đào tạo phối hợp cùng Hiệp hội In Việt Nam và các doanh nghiệp in như Công ty Sài Gòn 3, Công ty Ngọc Hoan.
    • Hành động: Ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo luân phiên, đưa sinh viên đến thực tập trực tiếp tại các phân xưởng sản xuất trong thời gian từ 4 đến 6 tháng; tận dụng hệ thống máy móc của doanh nghiệp làm môi trường rèn luyện kỹ năng thực tiễn.
    • Mục tiêu & Thời gian: Bắt đầu áp dụng từ học kỳ 2 năm 2012, nâng tỷ lệ học viên có việc làm ngay sau tốt nghiệp lên trên 90%.
  • Chuẩn hóa và nâng cao năng lực thực tế cho đội ngũ giảng viên dạy nghề:
    • Chủ thể thực hiện: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp cùng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
    • Hành động: Định kỳ hàng năm cử 100% giảng viên chuyên ngành đi thực tế sản xuất tại các nhà máy in hiện đại tối thiểu 1 đến 2 tháng; tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp sư phạm kỹ thuật và kỹ năng tiếp cận thiết bị tự động hóa.
    • Mục tiêu & Thời gian: Duy trì định kỳ từ năm 2013, bảo đảm 100% giảng viên đạt chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
  • Ứng dụng quy trình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) theo chu trình PDCA:
    • Chủ thể thực hiện: Bộ phận Đảm bảo chất lượng và Ban quản lý các trường nghề.
    • Hành động: Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng từ khâu tuyển sinh, tổ chức giảng dạy đến khâu đánh giá chuẩn đầu ra; định kỳ khảo sát mức độ hài lòng của đơn vị tuyển dụng để liên tục điều chỉnh quy trình.
    • Mục tiêu & Thời gian: Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng đạt chuẩn kiểm định trong giai đoạn 2013 – 2015, giảm tỷ lệ đào tạo lại tại doanh nghiệp xuống dưới 15%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và dạy nghề: Các chuyên viên hoạch định chính sách tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo có thể sử dụng các số liệu thực chứng và cơ sở lý luận của luận văn để xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề kỹ thuật, ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật và các chính sách ưu đãi thuế khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp.
  • Ban giám hiệu và đội ngũ cán bộ quản lý các trường nghề: Lãnh đạo các trường trung cấp, cao đẳng kỹ thuật có thể tham khảo trực tiếp mô hình phân bổ nguồn lực theo B. Ellison và chu trình PDCA để tái cấu trúc bộ máy quản lý, xây dựng chuẩn đầu ra sát với đòi hỏi của thị trường lao động và thiết kế quy trình kiểm định chất lượng nội bộ.
  • Chủ doanh nghiệp và giám đốc nhân sự ngành in ấn bao bì: Các nhà tuyển dụng có thể áp dụng các mô hình liên kết đào tạo kép, xây dựng khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực công nhân 5 cấp độ để tối ưu hóa quy trình thử việc, đồng thời chủ động phối hợp với nhà trường trong việc đặt hàng nhân lực chất lượng cao theo nhu cầu thực tế.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu quản lý giáo dục nghề nghiệp, phương pháp thiết kế bộ công cụ khảo sát đa đối tượng và khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết TQM, ISO và các mô hình đánh giá chất lượng hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc đào tạo nhân lực ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh lại có sự chênh lệch lớn giữa nhà trường và doanh nghiệp?
Nguyên nhân chủ yếu do công nghệ ngành in phát triển rất nhanh với việc tự động hóa các dòng máy in offset nhiều màu và công nghệ số, trong khi kinh phí đầu tư của các trường nghề còn hạn chế, dẫn đến việc học sinh phải thực hành trên máy móc thế hệ cũ. Thực tế có khoảng 72% doanh nghiệp phải đào tạo lại kỹ năng vận hành máy thực tế cho nhân viên mới.

Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) được áp dụng vào trường nghề như thế nào?
TQM được vận dụng thông qua việc coi chất lượng đào tạo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chứ không chỉ của giảng viên. Nhà trường áp dụng chu trình PDCA (Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Xử lý) để liên tục cải tiến chương trình, trong đó lấy mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và sự hài lòng của người học làm thước đo cốt lõi.

Làm cách nào các trường nghề giải quyết bài toán thiếu kinh phí đầu tư máy móc hiện đại?
Giải pháp tối ưu và mang tính đột phá nhất là triển khai mô hình đào tạo kép (kết hợp nhà trường và doanh nghiệp). Nhà trường tập trung giảng dạy kiến thức nền tảng và kỹ năng cơ bản, sau đó chuyển giao phần thực hành chuyên sâu trực tiếp tại các phân xưởng của các doanh nghiệp in như Công ty Sài Gòn 3 để học viên được tiếp cận thiết bị hiện đại mà không làm tăng gánh nặng ngân sách trường.

Luận văn sử dụng những chỉ số quốc tế nào để phản ánh bức tranh nhân lực?
Nghiên cứu dẫn chứng các số liệu vĩ mô chính thức gồm: chỉ số chất lượng nhân lực Việt Nam theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới đạt 3,79/10 điểm (xếp thứ 11/12 nước châu Á), chỉ số kinh tế tri thức (KEI) đạt 3,02 điểm (hạng 102/133 nước), cùng chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia xếp hạng 75/133 năm 2009.

Các giải pháp trong luận văn đã được kiểm chứng thực tế chưa?
Một số giải pháp trọng tâm về cải tiến phương pháp dạy học, tăng cường thực hành và phối hợp thực tập sản xuất đã được thử nghiệm trực tiếp tại Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật – Kinh tế Sài Gòn 3. Kết quả bước đầu ghi nhận sự gia tăng rõ rệt về kỹ năng tay nghề và sự tự tin của học sinh khi tiếp cận máy móc thực tế tại các xưởng in.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp, tích hợp thành công mô hình TQM, chu trình Deming và khung đánh giá đa thành tố của B. Ellison vào đặc thù ngành in.
  • Chỉ rõ các rào cản thực tiễn của công tác đào tạo nhân lực ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2012, nổi bật là tình trạng hơn 70% doanh nghiệp phải đào tạo lại lao động mới do thiếu hụt thiết bị thực hành hiện đại.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa 3 chủ thể: Cơ quan quản lý nhà nước, Cơ sở đào tạo nghề nghiệp và Doanh nghiệp sản xuất in ấn.
  • Khẳng định tính ưu việt của mô hình đào tạo kép và việc chuẩn hóa chương trình học theo chuẩn năng lực 5 cấp độ kỹ năng thao tác.
  • Thử nghiệm thành công các giải pháp ban đầu tại Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật – Kinh tế Sài Gòn 3, tạo tiền đề vững chắc cho việc nhân rộng mô hình ra toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp phía Nam.

Đề tài đóng góp một khung tham chiếu khoa học và thực tiễn sâu sắc cho công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2013 đến 2015, các cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo cần khẩn trương phối hợp cùng Hiệp hội In Việt Nam triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo kép, đổi mới chương trình và chuẩn hóa kiểm định chất lượng, góp phần cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.