Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Đào tạo nguồn nhân lực là một quá trình giáo dục, trong đó thể hiện rõ vai trò tương tác giữa việc dạy của người thầy và việc học của người học. Đào tạo nguồn nhân lực ngành in càng thể hiện rõ nét tính chất giáo dục nghề nghiệp, do vậy cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực cũng bao gồm các quan niệm, quy luật của cả quá trình đào tạo trong giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Các vấn đề liên quan đến lý luận đào tạo nguồn nhân lực sẽ được giới thiệu trong các mục dưới đây.1- Đào tạo (Training) - Đào tạo đề cập đến việc dạy các kiến thức, các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học có thể lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định. Khái niệm về đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm về giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ giáo dục nhất định.
- Trong nền kinh tế thị trường, đào tạo cũng được xem như là một loại dịch vụ cung cấp những kiến thức, kỹ năng rèn luyện, thái độ nghề nghiệp cho người lao động chuẩn bị đi vào thế giới nghề nghiệp trong tương lai.2- Nguồn nhân lực (Human Resources) - “ Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resources) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên (personnel 10 management) coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu, thì phương thức quản trị nguồn nhân lực (human resources management) với tính chất mềm dẽo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng vốn có của họ, kể cả khả năng tiềm tàng, thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “ nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. ” (theo Tạ Ngọc Hải – Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước) -Thuật ngữ nguồn nhân lực còn có các định nghĩa khác, tùy góc độ nghiên cứu: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của các tổ chức, có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Quan điểm này coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển chung của các tổ chức.
Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực là lực lượng lao động có trình độ lành nghề, có kiến thức và năng lực thực, có thực tế cùng với năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. “ Nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tình trạng khác như nghỉ hưu trước tuổi. Nguồn nhân lực là toàn bộ dân số đang ở trong độ tuổi lao động, tại Việt Nam ( hiện nay, số lượng này chiếm khoảng 65% dân số, ước đạt 58 triệu người).
11 - Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu, nhưng khi đề cập đến nguồn nhân lực, ba yếu tố: số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển luôn là các yếu tố quan trọng hàng đầu để đánh giá nguồn nhân lực.3- Chất lượng (Quality) - Chất lượng nói chung, được định nghĩa khác nhau từ các góc nhìn khác nhau bởi vì ý tưởng về chất lượng rất rộng. - Triết học Duy vật biện chứng quan niệm chất lượng là tổng hợp những thuộc tính của sự vật quy định nó là nó và để so sánh với những sự vật khác, hay nói cách khác, chất lượng xác định sự vật đang là nó chứ không phải cái khác. Vì vậy, nếu sự vật đang tồn tại hiện thực thì đương nhiên nó có chất lượng ở một đẳng cấp phù hợp.Khi mất chất thì sự vật biến thành cái khác mang chất lượng khác. - Theo khái niệm truyền thống về chất lượng, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện (có thể được làm bằng các vật liệu qúy hiếm và đắt tiền – về mặt kinh tế).Khái niệm này quá khái quát và thay đổi theo thời gian cũng như theo quan điểm mỗi người.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8402): Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.Đây cũng là định nghĩa của Bộ Tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9000. - Chất lượng là tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác.(theo Từ điển tiếng Việt phổ thông) - Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia. (Từ điển tiếng Việt thông dụng- NXB Giáo dục – 1998) 12 - Tiêu chuẩn Cộng Hòa Pháp (NFX 50): Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng. - Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản.
(Oxford Pocket Dictionnary) - Tiêu chuẩn ISO 9000 phiên bản 2000 và mô hình quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Managenment): Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng. - Mặc dầu chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của mỗi người khác nhau do có cách nhìn khác nhau nên có nhiều định nghĩa trái ngược nhau.Tuy vậy các định nghĩa về chất lượng sản phẩm đều nêu lên các thuộc tính bản chất của chất lượng và mức độ phù hợp của các thuộc tính này với những yêu cầu, mục tiêu của chuẩn mực chất lượng đã được xác định và công bố rộng rãi, cũng như sự thỏa mãn với các nhu cầu của người sử dụng trong những điều kiện cụ thể.Nghĩa là chất lượng của sản phẩm vừa có đặc tính chủ quan, vừa có đặc tính khách quan.2 – CHẤT LƯỢNG IN 1.1 – Theo quan niệm thông dụng - Quan niệm thông dụng cho là sản phẩm được tạo ra phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, là mức độ hài lòng của khách hàng. Quan niệm này đã hướng mục tiêu chất lượng vào sản phẩm in. - Mặc dầu được nhiều khách hàng biết đến, quan niệm này khá đơn giản và chưa đánh giá đúng mức các thuộc tính của chất lượng sản phẩm in cũng như chất lượng in.
Chất lượng sản phẩm in chưa phải là chất lượng in, bởi vì sản phẩm in là một hiện tượng đa chất lượng và quá trình sản xuất bao gồm ba giai đoạn là: đầu vào; quá trình thực hiện và đầu ra, trong ba giai đoạn này đều chứa những nhân tố của chất lượng in như nguồn nhân lực, vật chất,. - Theo quan niệm này, trong ngành in có những tiêu chí chuyên môn cụ thể để có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm in như độ chồng màu, độ đồng nhất,.2 – Theo quan niệm rộng - Theo quan niệm rộng về cơ cấu các lĩnh vực hoạt động trong ngành in thì chất lượng in là một khách thể phức tạp, đa chất lượng. Chất lượng in bao gồm nhiều yếu tố vật chất và tinh thần có thể quan sát và cảm nhận được như: Nguồn nhân lực Vật chất (nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,.) Hoạt động (sản xuất, kinh doanh, đào tạo, nghiên cứu,.) Quan hệ (quản lý, sản xuất, kinh doanh, tiếp thị,.) Môi trường sản xuất,. - Khi đánh giá kết quả hay sản phẩm, phải được xem xét ít nhất trong bốn lĩnh vực là: quản lý; tổ chức – sản xuất; kinh doanh – tiếp thị; đào tạo – nghiên cứu – phát triển.
Khi tất cả các yếu tố được tổ chức một cách tổng thể thành hệ thống thì mới tạo ra chất lượng in. - Chất lượng in phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và cần phải xem xét trong một hệ thống quản lý chất lượng. Đánh giá chất lượng in phải dựa vào chuẩn và nhu cầu thực tiển của cộng đồng để xác lập hệ thống tiêu chí và chỉ số cụ thể. Những tiêu chí chất lượng in có liên quan tới các yếu tố vật chất và tinh thần như đã nêu trên, đồng thời cũng xem xét đến các vấn đề như: Sự phù hợp của sản phẩm in với nhu cầu của khách hàng, cộng đồng và xã hội; Chất lượng của môi trường sản xuất in và đầu vào phục vụ các hoạt động in; Chất lượng của các quá trình sản xuất in; Chất lượng của nguồn nhân lực; Chất lượng đầu ra và tác động của kết quả kiểm tra chất lượng.
- Các yếu tố trên phải hài hòa trong một tổng thể. Một loại sản phẩm in được đánh giá có chất lượng cao, nhưng cũng kèm theo là các yếu tố như chí phí sản xuất cao, mất nhiều thời gian cho sản xuất, sức khỏe của công nhân bị ảnh hưởng hay sự mất ổn định của doanh nghiệp thì không thể gọi là chất lượng in cao.3 – CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO. - Phát triển từ quan niệm chung về chất lượng, chất lượng sản phẩm. Chất lượng đào tạo trong giáo dục cũng vậy, từ các góc độ khác nhau người ta có các quan điểm khác nhau về chất lượng đào tạo.