CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực của doanh nghiệp Theo giáo trình Quản trị nhân lực I, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội do PGS. Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực bên trong của mỗi con người, bao gồm thể lực và trí lực.
Nó thể hiện qua bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của thể lực.), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê…” [1, tr8] Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới. Nguồn nhân lực Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực “Tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của mỗi quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phương, đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả ăng huy tặng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước hoặc vùng địa phương cụ thể”.
8 Theo quan điểm kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đôi ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Từ góc độ hạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, người lao động trong một tổ chức được coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ trong quá trình phát triển tổ chức, hay còn gọi là “vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại”.
Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nguyễn Tiệp, giáo trình Quản trị nhân lực của nhà xuất bản Lao động – Xã hội (2011) thì nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
9 Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên làm cho các nguồn lực khác trở nên có ích. Qua tham khảo về các khái niệm nguồn nhân lực nêu trên, tác giải đưa ra khái niệm nguồn nhân lực theo cách hiểu của mình như sau: Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp là tổng hợp nguồn lực của tất cả những người lao động (bao gồm thể lực và trí lực) trong doanh nghiệp, được tổ chức một cách khoa học, sắp xếp hợp lý, được huy động trong quá trình lao động nhằm đạt những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực Theo từ điển Tiếng Việt, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn mình của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp.
Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật công nghệ và văn hóa đất nước. Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không chính quy. Theo giáo trình Quản trị nhân lực II của trường Đại học Lao động – Xã hội do PGS.TS Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc. Theo định nghĩa này thì việc đào tạo phải đáp ứng nhu cầu đã xác định, có 1 phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có mục tiêu đề ra rõ ràng.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế quốc dân do ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên, in năm 2007: “Đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.153] Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh của Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc Dân thì Đào tạo được hiểu là quá trình tác động có hệ thống nuôi dưỡng và tích lũy kỹ năng lao động nhằm đảm bảo cho người lao động luôn đáp ứng các yêu cầu mới của công việc và của môi trường.197] Như vậy có thể hiểu đào tạo theo ý nghĩa như sau: Đào tạo là quá trình làm biến đổi nhận thức, hành vi của con người thông qua việc học tập một cách có hệ thống, có mục đích nhằm lĩnh hội kinh nghiệm, nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực trong luận văn này được hiểu là môt quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ xảo, thái độ … để hoàn thiện nhân cách cho người lao động, tạo điều kiện cho người học có thể bước vào nghề một cách có năng suất và hiệu quả.
Nói một cách chung nhất, đào tạo được coi như một quá trình làm cho người học trở nên có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Công tác đào tạo nguồn nhân lực Công tác đào tạo nguồn nhân lực là quá trình tổ chức, triển khai các hoạt động để duy trì nâng cao chất lượng nguồn lực của tổ chức. Đây là điều 1 kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó, trong các tổ chức, công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và kế hoạch.
Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Đối với doanh nghiệp, tổ chức Trước hết, đào tạo giúp người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao. Nhờ đó, giá thành sản phẩm sẽ hạ, khả năng bán hàng hóa và dịch vụ sẽ tốt hơn, thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ được mở rộng và tổ chức sẽ có nhiều cơ hội để nâng cao lợi nhuận. Hơn nữa, thông qua đào tạo, khả năng tự tiến hành công việc một cách độc lập và tự giác của người lao động sẽ tăng, tổ chức sẽ giảm bớt được chi phí lao động cho việc giám sát quá trình làm việc của người lao động.
Trong thị trường cạnh trang gay gắt như ngày nay, doanh nghiệp càng mong muốn nhân viên thạo việc trong thời gian ngắn nhất. Trong trường hợp như thế đào tạo là giải pháp ưu việt. Hơn nữa, khi nắm được kiến thức và kỹ năng để thực hiện công việc, cá nhân có thể làm việc một cách độc lập mà không cần sự giám sát thường trực của cấp trên. Khi đó người quản lý sẽ có thời gian cho những công việc mang tính chiến lược hơn là những công việc sự vụ hàng ngày.
Ngoài ra, nhờ có đào tạo, tổ chức sẽ duy trì và nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực của mình, sẽ có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Điều đó sẽ giúp cho tổ chức nâng cao được tính ổn định và tính năng động trong các hoạt động của mình, đồng thời tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý vào trong các hoạt động của tổ chức. 1 Bên cạnh đó, thông qua đào tạo, tổ chức có thể chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận. Đào tạo giúp cho nhân viên có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.
Bên cạnh đó, đào tạo kích thích sự yêu thích công việc và mở ra những cơ hội mới cho cá nhân. Đào tạo giúp bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực, chuẩn bị một lực lượng lao động có trình độ để sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu trong công việc nhằm rút ngắn khoảng cách giữa cung – cầu nhân lực và chuẩn bị trong những đòi hỏi của thị trường nhân lực trong tương lai.