Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LOẠI HÌNH DU LICH DIA HỌC 1. Tống quan nghiên cứu về loại hình du lich dia học Hiện nay, các đạng du lịch bền vững ra đời như du lịch sinh thái, du lịch xanh. đã làm đa dạng thêm sản phẩm du lịch và cũng phan nào giải quyết được tác động tiêu cực lên môi trường, đây mạnh công tác bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, bảo tồn thiên nhiên được hiểu là bảo tồn đa dạng sinh học, mặc dù môi trường tự nhiên bao gồm cả đa dạng sinh học và đa dạng địa học.
Trong khi đó, đa dạng địa học là nên móng cho đa dạng sinh học. Đa dạng địa học (hợp phần phi sinh) bao gồm môi trường, nền móng cùng hàng loạt các quá trình hỗ trợ mạnh mẽ cho đa dạng sinh học. Như vậy, yếu tố địa chất, địa mạo, cảnh quan làm nên đa dạng địa học cũng cần được xem xét một cách cần thận đề bảo tồn. Việc bảo tồn các di sản địa chất ít nhất là giảm sự phá hủy chúng tới mức tối thiểu.
Bảo tồn di sản địa chất là cần thiết bởi lẽ không chỉ là việc tiết kiệm tài nguyên, mà còn đảm bảo rằng không có sự lãng phí trong việc sử dụng chúng. [42] Các điểm du lịch phần lớn sẽ là các vi trí có các giá tri về địa chất, địa mạo, cảnh quan (geosite), chúng ta cũng có thê gọi là những đi sản địa chất, là một phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về khoa học, giáo dục, thâm mỹ và kinh tế. Tác giả Reynard (2007) đã phân thành hai loại giá trị khoa học và các giá trị bồ sung (bao gồm giá trỊ về sinh thái, thâm mỹ, văn hóa, lịch sử, kinh té.); và ông cũng dua ra nhận định hoạt động du lịch có thê gây ra các tác động đến địa di sản hay các giá trị của chúng [83]. Các giá trị này cần được đánh giá và khai thác để phát triển theo hướng du lịch địa học và bảo tồn tài nguyên địa chất thông qua hoạt động nghiên cứu, học tập tìm hiểu về lịch sử địa chất khu vực.
Trên thế giới thuật ngữ “Du lịch địa học - Geotourism” đã trở nên phổ biến, nhưng ở Việt Nam, thuật ngữ này vẫn còn khá mới mẻ. Du lịch địa học bắt đầu được quan tâm nghiên cứu vào cuối những năm 1990 ở Anh, được đề cập đến trong Hội nghị quốc gia lần thứ nhất ở Belfast [37]. Lần đầu tiên thuật ngữ du lịch địa học được 11 định nghĩa bởi Thomas A. Ông định nghĩa du lịch địa học là “hoạ động cung cấp các phương thức giải thích và dịch vụ cho phép khách du lịch trải nghiệm thực tế, thu nạp những kiến thức và hiểu biết về đặc điểm địa chat, địa mạo của một địa điềm nhất định ngoài khía cạnh đánh giá thấm mỹ đơn thuần” [46].
Dowling và Newsome (2010) đã định nghĩa du lịch địa học là “một hình thức du lịch đặc biệt tập trung vào các giá trị di sản dia chất và cảnh quan” [39]. Newsome và Dowling, (2018) sau đó đã định nghĩa du lịch địa học là “hoạt động du lịch trong đó tập trung vào các gid trị địa chất và cảnh quan tự nhiên của một khu vực như là cơ sở thúc day phat trién du lich bén yững” [72]. Bên cạnh đó, các tac gia trên đặc biệt nhắn mạnh loại hình du lich địa học không thé tồn tai và phát triển nếu không có sự quản lý các di sản, nên đã chú trọng đến van dé bảo tồn trong du lịch địa học [48,50,71]. Bảo ton di sản địa chất thê hiện mức độ con người có trách nhiệm đối với các di sản tự nhiên và có kế hoạch bảo tồn các giá trị đa dạng địa chất, địa mạo và sự thay đôi của chúng theo thời gian [47,79,80].
Năm 2011, Đại hội quốc tế về du lịch dia học được tô chức bởi UNESCO, đưa ra tuyên bố Arouca nêu một định nghĩa mới cho du lịch địa học: “Du lịch địa học là một loại hình du lịch giúp duy trì và tăng cường đặc điểm đặc sắc của một vùng lãnh thổ, can chú ý các đặc điểm địa chất, môi trường, văn hóa, thẩm mỹ, di sản và phúc lợi của cu dân địa phương. Dia chat du lịch là một trong nhiêu thành phan cua du lich dia học” [37]. Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chứng kiến sự thay đôi mạnh mẽ về sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đối với du lịch địa học. Theo nghiên cứu của các tác giả Herrera-Franco, (2020) trong khoảng thời gian từ 1984 đến 2019 đã có tới 506 bài báo, công bồ trên thế giới về du lịch địa học, tuy nhiên số lượng công bố khoa học tập trung chủ yếu trong giai đoạn 20 năm trở lại đây với 504 công bố khoa học và liên tục gia tăng theo thời gian [45] (hình 1.
Ba Lan là quốc gia dẫn đầu về số lượng công bố với 52 công 12 trình nghiên cứu, theo sau đó lần lượt là Anh và Braxin với 46 và 34 bài báo (hình 1. Xét theo khía cạnh khác về số lượng trích dẫn tài liệu tham khảo thì nước Anh dẫn đầu với 954 lượt trích dẫn, tiếp theo sau đó là Australia và Italy với 591 và 484 lượt trích dẫn tương ứng (hình 1. Về các nhà khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch địa học, 1252 tác giả đã được thống kê nghiên cứu, hình 4 thể hiện top 15 tác giả có số công bố khoa học và lượt trích dẫn nhiều nhất trên thế giới. dẫn đầu về số lượng bài báo với 23 công bó, xếp sau đó lần lượt là Hose T.
với 13 và 12 công bố khoa học (hình 1. Tuy nhiên lai có sự khác biệt khi tính xếp hạng theo tiêu chí lượt trích dẫn tham khảo tài liệu, theo thông sé nay thi Hose T. lai dan đầu với 530 lượt trích dẫn tham khảo, tiếp sau đó là Dowling R.K với 314 lượt và Farsani N. với 229 lượt trích dẫn (hình 1.
Tổng số 142 tạp chí khoa học trên thế giới đã được thống kê có đăng tải các công trình nghiên cứu về du lịch địa học, trong đó top 15 tạp chí có số lượng công bố nhiều nhất chiếm tới 61,86% số lượng công trình nghiên cứu. Tạp chí Địa di sản (Geoheritage) có 165 bài báo được đăng tải, chiếm tỷ trọng 32,61% và cũng đồng thời là tạp chí có sỐ lượng trích dẫn cao nhất với 1818 lượt [45]. đi “————————— Giai đoạn 1 — Giai doan 2 —>~— Giai đoạn 3` ——> 1 ! 752 1 ' 750 1 “`t 1 | 700 h \! | | ofs 1 650 ' | 11 1 600 ' |] ' | 1) 550 1 + ' | ' | 500 ï b+} #64ø 450 ' TL H | 4 | | 400 : F—†tƒ——w` -- Số bài báo - ' 343 ¡ 348 w \ R 350 ' " pw \ —8— Lượt trích dan 1 | 1 \ 300 ' i} | ' 282 ! | |1 8 1! an 1 \ 250 1 | | ' \ 1 | 1 \ 200 1 L/ | 1 \ = 1 1 \ 1 | 1 145 150 1 | 1 ' a 1 | "8 1 14 100 H | } 71 Bản: \ | | 4 a7 S2 ~ „ 50 - : 6 ;y 9 # „am Íp at 35 + a 12-2 1 AU 2`»⁄2 ¿ wa, + †—* 0 w `8. sen Ss Sa +—* 1 1982 1984 1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 2016 2018 2020 THOIGIAN | ; Hình 1.1; Biéu đồ thé hiện số lượng công bồ và trích dan khoa học từ 1984 dén 2019 [45] 13 60 z3 1000 95% 5 a 900 5 46 Sblưáàốợoing 50 6 800 40 34 = 70 591 Ð ‹# 600 484 30 2 26 2s 25 22 22 2 » 500 422.
20 wy 16 16 155 5 400 ae ot os 5 5 300 “> 239 219 195 180 10 w h F \@ 200 I ' " 128 124 108 102 0 am 0 Wuanna SF OS ¿? YS Ww XP AÝ or oS Ser XÃ >i Oe wierd Ss SS € FMP PF về KF PF FP PS SF FPF FESS FS MP KMS 8 Rau 3 w GX FS TP La 2) cế AS đới vs E ge TSS ve & S 3 gề SN ` xố + ES ss ở es ơ Quéc gia Piney bcs Quoc gia Hình 1.2: Top 15 quốc gia có số lượng công bồ và lượt trích dẫn nhiễu nhất giai đoạn 1984 - 2019.3: Top 15 tác giả có số lượng công bồ và lượt trích dẫn nhiều nhất giai đoạn 1984 - 2019. (a) Số lượng bài báo; (b) Tổng số lượt trích dẫn [45] Đề đánh giá xu hướng thay đồi về các chủ đề nghiên cứu liên quan đến du lịch địa học, Herrera-Franco và nhóm cộng sự của mình đã sử dụng phương pháp phân tích trắc lượng thư mục (Bibliometric Analysis) tính toán với các số liệu thu thập từ các bài báo công bố trong cơ sở dữ liệu các tạp chí thuộc danh mục Scopus, kết quả cho thấy sự thay đồi về chủ đề, hướng nghiên cứu được thiết lập thông qua các cum chứa các từ khóa có liên quan với nhau. Du lịch địa học được lấy làm trung tâm trong mối quan hệ với các khái niệm liên quan như địa di sản, công viên địa chất, địa chất, địa mạo và đa dạng địa chất. Đánh giá chung theo thời gian các lĩnh vực nghiên cứu dần được mở rộng và có sự giao thoa lẫn nhau.
Trong giai đoạn I (1984-2005) các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mô tả các di san tự nhiên, di sản cô sinh vật học và bắt đầu hình thành khái niệm công viên địa chất. Khái niệm du lịch địa học trong giai đoạn này rất ít xuất hiện và liên quan đến các vấn đề nghiên cứu, giáo dục về địa chất khu vực và bảo tồn địa lý nói chung trong tất cả các môi trường sinh thái tự nhiên, bao gôm cả sa mạc. Mức độ liên kêt giữa các chủ đê nghiên cứu trong giai đoạn này 14 còn khá xa và rời rac. Trong giai đoạn II (2006-2012) có tông cộng 223 từ khóa liên quan được tìm thấy, được chia thành 2 cụm nhóm nội dung nghiên cứu.
Nghiên cứu về du lịch địa học chiếm ưu thế trong giai đoạn này, điều này phản ánh sự xuất hiện khái niệm du lịch địa học ở Anh cuối những năm 1990 đã có sức ảnh hưởng, thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới [49,51].