Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động du lịch trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa đóng vai trò là một trong năm ngành kinh tế lớn nhất hành tinh, chiếm khoảng 6% tổng thu nhập thế giới theo đánh giá của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO). Tại Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định phương hướng phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng tài nguyên văn hóa, sinh thái và môi trường, từng bước xây dựng du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng sông Hồng với diện tích tự nhiên 1.420 km² và dân số gần 1 triệu người. Địa phương này sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, bao gồm các danh thắng và khu bảo tồn như Tam Cốc – Bích Động, Vườn quốc gia Cúc Phương, Khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long, suối nước nóng Kênh Gà, nhà thờ đá Phát Diệm cùng hệ thống 110 di tích lịch sử - văn hóa đã xếp hạng. Trong đó, Khu du lịch Tràng An (được hình thành và phát triển từ năm 2001) gắn liền với không gian bảo tồn Cố đô Hoa Lư, giữ vị trí then chốt trong định hướng phát triển du lịch của tỉnh và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc theo Quyết định số 865/QĐ-TTg năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, công tác tổ chức, quy hoạch và khai thác du lịch tại Tràng An trong giai đoạn đầu còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa tương xứng với giá trị địa chất, cảnh quan và lịch sử vốn có. Xuất phát từ thực tế này, tác giả Đỗ Thị Ngọc (Lớp VH 901) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Tìm hiểu Khu du lịch Tràng An (Ninh Bình) phục vụ phát triển du lịch".

Khóa luận xác định mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Đánh giá tiềm năng phát triển và thực trạng hoạt động du lịch tại Khu du lịch Tràng An, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về du lịch và tài nguyên du lịch.
    2. Nghiên cứu, khảo sát thực trạng tài nguyên và hoạt động khai thác du lịch tại Khu du lịch Tràng An.
    3. Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch tại Khu du lịch Tràng An.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn, khảo cổ học) và thực trạng hoạt động du lịch tại địa bàn.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Khu du lịch Tràng An với tổng diện tích quy hoạch 1.566 ha, nằm trên địa bàn các xã Trường Yên, Ninh Hải, Ninh Xuân (huyện Hoa Lư); xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn); xã Ninh Nhất và phường Tân Thành (thành phố Ninh Bình).
    • Thời gian: Số liệu và khảo sát hiện trạng được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2001–2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực của khoa học du lịch và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Khái niệm và bản chất du lịch: Dẫn chiếu định nghĩa của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Du lịch tại Roma (1963) và Luật Du lịch Việt Nam (Điều 4). Tác giả phân tích du lịch dưới hai góc độ song hành: hiện tượng xã hội (phục hồi thể lực, nâng cao nhận thức cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước) và ngành kinh tế dịch vụ.
  • Lý luận về tài nguyên du lịch: Khái niệm theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuệ và Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam; phân loại tài nguyên thành hai nhóm chính: tài nguyên tự nhiên (địa hình karst, khí hậu, thủy văn, sinh vật) và tài nguyên nhân văn (di sản văn hóa, di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề, dân tộc học, ẩm thực). Tác giả nhấn mạnh các đặc điểm cơ bản: tính tập trung lãnh thổ, tính thời vụ và khả năng tái sử dụng nếu được bảo tồn hợp lý.
  • Đánh giá tác động du lịch: Phân tích ma trận tác động hai chiều của hoạt động du lịch lên môi trường tự nhiên (tôn tạo cảnh quan, giáo dục sinh thái đối lập với nguy cơ xả rác, phá vỡ cấu trúc địa hình karst, vượt ngưỡng chịu tải) và môi trường kinh tế - xã hội (chuyển dịch cơ cấu lao động, xuất khẩu tại chỗ đối lập với lạm phát cục bộ, tính mùa vụ, thương mại hóa văn hóa).
Nhóm tác động Tác động tích cực Tác động tiêu cực tiềm ẩn
Môi trường tự nhiên - Giáo dục ý thức bảo tồn thiên nhiên.
- Thúc đẩy khoanh vùng bảo vệ rừng đặc dụng và nguồn nước.
- Xếp hạng và tôn tạo cảnh quan địa hình karst.
- Ô nhiễm rác thải và nước mặt trong mùa cao điểm.
- Xâm lấn đất rừng đặc dụng và thảm thực vật karst.
- Nguy cơ biến dạng hệ thống thạch nhũ trong hang ngầm.
Môi trường kinh tế - xã hội - Tạo nguồn thu ngoại tệ và chuyển dịch cơ cấu vốn.
- Giải quyết việc làm cho cư dân nông nhàn.
- Bảo tồn và phục hồi làng nghề truyền thống.
- Gia tăng tính thời vụ, gây lãng phí cơ sở vật chất.
- Nguy cơ lạm phát giá cả dịch vụ cục bộ.
- Xói mòn phong tục tập quán và bản sắc văn hóa bản địa.

Tác giả sử dụng kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác văn bản quy hoạch, niên giám thống kê từ UBND tỉnh Ninh Bình, Sở Du lịch Ninh Bình và các báo cáo khảo cổ.
  2. Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp cảnh quan hang động, đo đạc mô tả di tích, phỏng vấn cán bộ quản lý và người dân địa phương tham gia chèo thuyền, dịch vụ.
  3. Phương pháp tổng hợp, so sánh: Phân tích đối chiếu giữa mô hình quản lý của các khu vực tương đồng (như so sánh quy hoạch biển Sầm Sơn và Mỹ Khê) để rút ra bài học kinh nghiệm cho Tràng An.
  4. Phương pháp bản đồ: Sử dụng Bản đồ du lịch Ninh Bình, Bản đồ quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phân khu chức năng Khu du lịch Tràng An.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương này tập trung hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về du lịch, cơ cấu tài nguyên du lịch và các quy luật vận hành của hệ thống lãnh thổ du lịch. Tác giả chứng minh rằng tài nguyên du lịch là thành phần cốt lõi cấu thành sản phẩm du lịch, định hình sức hấp dẫn và tính chuyên môn hóa của không gian điểm đến.

Chương I cũng đi sâu làm rõ cơ chế tác động qua lại giữa khai thác du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái. Bài học thực tiễn được chỉ ra qua việc so sánh bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) – nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng công tác quản lý quy hoạch thiếu đồng bộ làm giảm chất lượng điểm đến – với bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), nơi duy trì hiệu quả kinh doanh cao nhờ quy hoạch bài bản và bảo vệ tài nguyên nghiêm ngặt.

Chương II: Tiềm năng du lịch của khu du lịch Tràng An - Ninh Bình

Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, cung cấp bức tranh toàn diện và chi tiết về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và hiện trạng tài nguyên tại Khu du lịch Tràng An:

  • Khái quát địa bàn tỉnh Ninh Bình: Nằm ở tọa độ 19°50’B – 20°27’B và 105°32’Đ – 106°27’Đ; nhiệt độ trung bình năm 23,5°C; độ ẩm 85%; mạng lưới thủy văn dày đặc với mật độ dòng chảy 0,6 – 0,9 km/km² (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Xào Khê). Hệ thống suối khoáng nóng Kênh Gà có lưu lượng 5 m³/h (phát hiện năm 1941 bởi nhà khoa học M. Rautiet, khai thác từ 1962). Vườn quốc gia Cúc Phương rộng 22.000 ha và Khu bảo tồn ngập nước Vân Long rộng trên 3.000 ha (457 loài thực vật với 8 loài Sách Đỏ; 39 loài động vật với quần thể khoảng 50 cá thể voọc đùi trắng).
  • Cơ cấu quy hoạch Khu du lịch Tràng An: Theo Quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 18/11/2005 của UBND tỉnh Ninh Bình, tổng diện tích 1.566 ha được chia thành 4 phân khu chức năng:
Phân khu chức năng Quy mô diện tích Vị trí và chức năng quy hoạch
Khu bảo tồn đặc biệt Cố đô Hoa Lư 336,7 ha Triển khai quy hoạch chi tiết năm 2004; phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, lễ hội, nghỉ dưỡng sinh thái.
Khu trung tâm 80,9 ha (QH chi tiết: 99,31 ha) Nằm tại thung Áng Mương, thung Đồng Sắn, thung Xa Liễn; tiếp đón, điều phối 9 lộ trình thủy và 2 lộ trình bộ, tổ chức hội nghị, dịch vụ.
Khu hệ thống hang động 555,2 ha Gồm 31 thung, 48 hang động (~12 km), chia 3 phân khu: PK1 (380,29 ha), PK2 (59,86 ha phía Đông sông Sào Khê), PK3 (115 ha hồ Đàm Thị).
Khu chùa Bái Đính 107,6 ha (QH mở rộng: 390 ha) Trung tâm văn hóa tâm linh Phật giáo gắn với núi Bái Đính và thung lũng lân cận.
  • Hệ thống địa hình karst và cảnh quan hang động: Khu vực có gần 100 hang động với tổng chiều dài xấp xỉ 20 km. Tác giả mô tả chi tiết các hang động tiêu biểu:
    • Hang Luồn (Xuyên Thủy Động): Dài 143 m, rộng trên 30 m; vách núi lưu giữ bia ma nhai bài thơ chữ Hán gồm 13 dòng (142 chữ) của chúa Trịnh Sâm khắc vào mùa đông năm Canh Dần (1770), do Cao Đoàn vâng mệnh viết chữ; kích thước bia cao 1,55 m, rộng 2,42 m, cách mặt nước 4 m.
    • Động Người Xưa: Hang karst cao 40–60 m, lòng hang sâu gần 100 m so với cửa, cửa hang có tầng trầm tích vỏ ốc nước ngọt hóa thạch dày hàng mét minh chứng cho sự cư trú thời tiền sử.
    • Động Bái Đính: Gồm hang Sáng (dài 25 m, rộng 15 m, cao 2 m, thờ Phật) và hang Tối (gồm 7 buồng lớn có thạch nhũ).
    • Hang Tối (Tràng An): Hang ngập nước quanh co dài 315 m, vòm trần có nơi cao tới 60 m, là nơi trú ngụ của đàn dơi tự nhiên.
    • Hang Sáng: Dài 112 m, nối thông qua thung Sáng (diện tích thung 15 ha).
    • Hang Ba Giọt: Dài 156 m, lòng hang rộng tới 25 m, gắn với truyền thuyết nguồn nước may mắn.
    • Các hang xuyên thủy khác: Hang Nấu Rượu (250 m), hang Sơn Dương (210 m), hang Si (200 m), hang Ao Trai (250 m), hang Thuốc (220 m), hang Seo Lớn (98 m), hang Seo Bé (60 m), hang Khống (60 m).
  • Hệ thống di chỉ khảo cổ học tiền sử: Tràng An ghi nhận 15 di tích khảo cổ học hang động phân bố tại hai huyện Hoa Lư và Gia Viễn:
Tên di tích khảo cổ Địa điểm / Tọa độ Đặc điểm địa tầng và hiện vật phát hiện
Mái đá Chợ Thôn Đoan Khê, xã Ninh Hòa (20°14'298''B, 105°53'984''Đ; cao 135 m) Phát hiện năm 2007 bởi Nguyễn Văn Lữ; hố đào thăm dò có vỏ ốc núi, ốc suối, xương động vật, mảnh tước đá, than tro.
Mái đá Ông Hay Thôn Đoan Khê, xã Ninh Hòa (20°14'319''B, 105°53'179''Đ; cao 5 m) Diện tích khai quật >50 m²; phát hiện năm 2007; chứa vỏ ốc suối, ốc biển, xương động vật; thuộc thời đại kim khí.
Mái đá Vàng Thôn Đoan Khê, xã Ninh Hòa (cao 14,3 m; diện tích >200 m²) Tìm thấy ốc núi, vỏ hầu cửa sông, chày đá có dấu vết gia công và mảnh gốm sứ.
Hang Bói Tọa độ 20°15'32''B, 105°53'17''Đ; rộng 19,7 m, sâu 10 m Phát hiện năm 2002; Đại học Cambridge khai quật năm 2007; chứa công cụ đá, xương thú (hươu, nai, lợn); niên đại Văn hóa Hòa Bình sớm.
Cụm hang Thung Bình (1 đến 5) Thôn 7, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn (mặt Đông núi Thung Bình) Hang Thung Bình 1 (cao 13 m), Thung Bình 2 (Hang Sáo, cao 27 m); phát hiện tầng trầm tích đỏ/vàng, vỏ nhuyễn thể và đồ gốm tiền sử.
Các hang khác Xã Trường Yên và Ninh Hòa Hang Vượn Trên, Hang Vượn Dưới, Hang Thiên Tôn, Hang Hoa Sơn.
  • Di tích lịch sử và giá trị nhân văn:
    • Chùa Bàn Long: Chùa hang trong núi Đại Tượng (xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư); bia đá khắc năm Nguyên Hòa thế kỷ XVI triều Lê Trang Tông; lưu giữ tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối tọa lạc trên bệ đá hình rồng cuộn tự nhiên.
    • Quần thể chùa Bái Đính: Phân định giữa Bái Đính cổ tự (gắn với tích Thiền sư Nguyễn Minh Không thời Lý lập am thờ Phật tại hang Voi Phục) và dự án Bái Đính tân tự (quy hoạch 390 ha, các hạng mục lớn gồm tháp chuông chứa quả chuông đồng 36 tấn cao 10 m, Điện Tháp Chủ đặt tượng Thích Ca Mâu Ni đồng nguyên khối nặng 100 tấn, Điện Tam Thế đặt 3 pho tượng đồng 50 tấn/pho, hành lang 500 tượng La Hán bằng đá cao 2–2,5 m).
    • Lễ hội và làng nghề: Lễ hội đền Thái Vi (14–17/3 âm lịch), Lễ hội Cố đô Hoa Lư (8–10/3 âm lịch), Lễ hội chùa Bái Đính (mùng 6 tháng Giêng); làng nghề thêu ren Văn Lâm (>700 năm, truyền dạy từ thời bà Trần Thị Dung năm 1285), nghề chế tác đá mỹ nghệ Ninh Vân; văn hóa ẩm thực đặc trưng (thịt dê núi tái Hoa Lư, cơm cháy "nhất hưởng thiên kim", mắm tép Gia Viễn, rượu Lai Thành).

Chương III: Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch tại khu du lịch Tràng An

Chương III tổng kết hiện trạng khai thác tại chỗ: Hoạt động du lịch bắt đầu tạo chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế địa phương, tạo việc làm nông nhàn cho cư dân thông qua dịch vụ chèo đò, ăn uống, hướng dẫn và bán hàng lưu niệm.

Tuy nhiên, hoạt động khai thác thời kỳ này còn mang tính tự phát, thiếu tính liên kết chuỗi dịch vụ; cơ sở hạ tầng giao thông và bến bãi đang trong quá trình xây dựng dở dang; chất lượng phục vụ và ý thức bảo vệ môi trường cảnh quan karst ngập nước chưa đồng đều. Trên cơ sở phân tích điểm mạnh và hạn chế, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  1. Giải pháp quản lý quy hoạch: Thực hiện nghiêm túc ranh giới 4 phân khu chức năng theo Quyết định 2570/QĐ-UBND; kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng các công trình nhân tạo trong vùng lõi rừng đặc dụng (980 ha).
  2. Giải pháp bảo tồn tài nguyên: Bảo tồn nguyên trạng cấu trúc hang động, hệ thống thạch nhũ và tầng văn hóa tại 15 di chỉ khảo cổ học; xử lý triệt để rác thải sinh hoạt và nước thải từ phương tiện thuyền đò.
  3. Giải pháp phát triển sản phẩm: Khai thác hiệu quả 9 tuyến du lịch đường thủy và 2 tuyến đường bộ; kết hợp tuyến du lịch sinh thái hang động với du lịch tâm linh Bái Đính, du lịch di sản Cố đô Hoa Lư và trải nghiệm làng nghề truyền thống Ninh Vân, Văn Lâm.
  4. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng thuyết minh, nghiệp vụ du lịch, văn hóa giao tiếp và kiến thức bảo vệ môi trường cho đội ngũ lái đò, tiểu thương địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu quy hoạch và tài nguyên: Khóa luận tập hợp đầy đủ các thông số kỹ thuật về quy mô phân khu (1.566 ha), cơ cấu địa hình, danh mục gần 100 hang động ngập nước dài 20 km và mô tả chi tiết 15 di chỉ khảo cổ hang động phân bố tại Hoa Lư và Gia Viễn.
  • Tư liệu hóa các giá trị lịch sử - văn hóa tại điểm đến: Khóa luận ghi chép chính xác nguyên văn bản dịch 142 chữ Hán bài thơ ma nhai của chúa Trịnh Sâm khắc năm 1770 tại Hang Luồn, văn bia thế kỷ XVI tại Chùa Bàn Long, cùng thông số các kỷ lục kiến trúc Phật giáo tại chùa Bái Đính mới.
  • Đóng góp định hướng quản lý thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học giúp cơ quan quản lý địa phương nhận diện rõ tính hai mặt của hoạt động du lịch đối với hệ sinh thái karst nhạy cảm, đưa ra các đề xuất điều chỉnh tuyến điểm du lịch đường thủy trước thời điểm Quần thể danh thắng Tràng An được đệ trình công nhận Di sản Thế giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn Khu du lịch Tràng An và đại công trình chùa Bái Đính mới đang trong quá trình xây dựng, thi công hạ tầng (2005–2008), do đó chưa có chuỗi số liệu thống kê định lượng dài hạn về lượng khách, doanh thu và tải lượng môi trường sau khi toàn bộ dự án đi vào vận hành chính thức.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần triển khai các nghiên cứu chuyên sâu về sức chứa du lịch (carrying capacity) của hệ thống hang động ngập nước; đánh giá định lượng tác động của hoạt động thuyền đò đối với chất lượng nước mặt sông Sào Khê; xây dựng mô hình du lịch cộng đồng bền vững chia sẻ lợi ích kinh tế cho cư dân vùng đệm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học, Việt Nam học, Địa lý kinh tế và Quy hoạch cảnh quan.
  • Giá trị khai thác:
    • Là tài liệu tham khảo giá trị về cấu trúc địa lý - khảo cổ học sơ khởi của Quần thể danh thắng Tràng An trước khi trở thành Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới.
    • Cung cấp phương pháp tiếp cận đánh giá tài nguyên du lịch kết hợp giữa yếu tố tự nhiên (địa hình karst, thủy văn) và yếu tố văn hóa nhân văn (lễ hội, làng nghề, bia ký Hán Nôm).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng diện tích quy hoạch của Khu du lịch Tràng An là bao nhiêu và gồm những phân khu nào?
Tổng diện tích quy hoạch là 1.566 ha (theo Quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 18/11/2005), bao gồm 4 phân khu chức năng: Khu bảo tồn đặc biệt Cố đô Hoa Lư (336,7 ha), Khu trung tâm (80,9 ha; quy hoạch chi tiết 99,31 ha), Khu hệ thống hang động (555,2 ha gồm 31 thung, 48 hang) và Khu chùa Bái Đính (107,6 ha; quy hoạch mở rộng 390 ha).

2. Di chỉ khảo cổ học nào tại Tràng An được tổ chức quốc tế khai quật và thuộc nền văn hóa nào?
Hang Bói (xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư) được phát hiện năm 2002 bởi Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Cao Tấn, sau đó được các nhà khảo cổ học Trường Đại học Cambridge cùng các tổ chức quốc tế khai quật vào năm 2007. Kết quả phát hiện công cụ đá, xương động vật và vỏ nhuyễn thể, xác định thuộc Văn hóa Hòa Bình sớm.

3. Nội dung bia ma nhai tại Hang Luồn do ai sáng tác và có thông số như thế nào?
Bia ma nhai do chúa Trịnh Sâm sáng tác và cho khắc vào mùa đông năm Canh Dần (1770) nhân chuyến tuần thú cõi Tây, do viên quan Cao Đoàn chấp bút viết chữ. Bia có kích thước cao 1,55 m, rộng 2,42 m, nằm cách mặt nước khoảng 4 m, gồm 13 dòng chữ Hán với tổng cộng 142 chữ (5 dòng lạc khoản và 8 câu thơ Đường luật vịnh cảnh Hoa Lư - Hang Luồn).

4. Khóa luận ghi nhận những thông số kỷ lục nào của các công trình, hiện vật tại chùa Bái Đính mới?
Khóa luận thống kê: quả chuông đồng tại Tháp Chuông nặng 36 tấn (cao 10 m, đường kính miệng 5 m); tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối tại Điện Tháp Chủ nặng 100 tấn; ba pho tượng Tam Thế bằng đồng tại Điện Tam Thế nặng 50 tấn/pho; và hành lang La Hán gồm 500 pho tượng tạc bằng đá xanh nguyên khối cao từ 2 m đến 2,5 m.

5. Tác giả phân tích tính hai mặt của du lịch đối với kinh tế - xã hội địa phương ra sao?
Về mặt tích cực, du lịch giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ, kích thích làng nghề thủ công (thêu Văn Lâm, đá Ninh Vân) và giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn. Về mặt tiêu cực, du lịch tạo ra tính thời vụ làm lãng phí cơ sở vật chất mùa thấp điểm, gây nguy cơ lạm phát cục bộ giá cả sinh hoạt và làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống do thương mại hóa.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Ngọc đã phân tích một cách có hệ thống tiềm năng tài nguyên tự nhiên, khảo cổ học và nhân văn phong phú của Khu du lịch Tràng An trong tổng thể không gian văn hóa Cố đô Hoa Lư. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực địa chi tiết về hệ thống hang động karst ngập nước, các văn bia lịch sử và hiện trạng quy hoạch 4 phân khu chức năng theo các quyết định của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005–2008. Đây là tài liệu khoa học hữu ích phục vụ công tác nghiên cứu địa lý du lịch, bảo tồn di sản và hoạch định chiến lược phát triển du lịch bền vững tại địa phương.