Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ ĐỒNG PHẠM CÓ TỔ CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm của đồng phạm có tổ chức 1. Khái niệm đồng phạm có tổ chức Tội phạm là một chế định bao trùm, là cơ sở cho mọi chế định khác và có tính chất quyết định, nền tảng của Luật hình sự. Tội phạm có thể do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do nhiều người cố ý cùng gây ra.
Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người cùng chung ý chí và hành động, Khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm. Chế định đồng phạm được quy định tại Điều 17 BLHS Việt Nam hiện hành với nội dung: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Căn cứ vào từng tiêu chí cụ thể, đồng phạm được phân chia thành các hình thức khác nhau. Cụ thể: khi căn cứ vào những dấu hiệu khách quan, đồng phạm được phân chia thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp; khi căn cứ vào những dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân chia thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước; khi căn cứ vào sự câu kết giữa những người đồng phạm, đồng phạm được phân chia thành đồng phạm thông thường và đồng phạm có tổ chức.
Trong các hình thức đồng phạm, đồng phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận trong pháp luật hình sự. Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành quy định đồng phạm có tổ chức tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015 với nội dung: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Các BLHS năm 1985, 1999 cũng như các lần sửa đổi, bổ sung đều quy định đồng phạm có tổ chức với là hình thức đồng phạm đặc biệt với nội 7 dung không đổi so với BLHS năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, BLHS năm 1985, 1999 và 2015 cũng như các lần sửa đổi, bổ sung đều quy định và sử dụng thuật ngữ pháp lý “phạm tội có tổ chức”, trong đó đều khẳng định “phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm …”.
Do vậy, có thể khẳng định “phạm tội có tổ chức” và “đồng phạm có tổ chức” là một, đồng nhất với nhau và là một hình thức cụ thể của đồng phạm. Pháp luật hình sự các quốc gia trên thế giới cũng có những quy định và tên gọi khác nhau về chế định đồng phạm có tổ chức. Có thể kể đến: BLHS nước Cộng hòa Pháp gọi là băng có tổ chức, BLHS Liên bang Nga gọi là nhóm có tổ chức… Nghiên cứu cho thấy, hiện nay ở Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất pháp lý của hình thức đồng phạm có tổ chức. Có thể kể đến: [9, tr.
168 - 172] Quan điểm thứ nhất, trong đồng phạm có tổ chức nhất thiết phải có sự phân công vai trò, nhiệm vụ khác nhau giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó bắt buộc phải có người cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Trước khi thực hiện tội phạm, những người đồng phạm có tổ chức phải có sự bàn bạc thống nhất về kế hoạch phạm tội, phương thức thực hiện tội phạm một cách kỹ càng, chu đáo. Như vậy, có thể hiểu quan điểm này đã đồng nhất giữa khái niệm đồng phạm có tổ chức với hình thức đồng phạm phức tạp theo Khoa học Luật hình sự Việt Nam. Quan điểm thứ hai, đồng phạm có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước là một.
Quan điểm này đã đồng nhất đồng phạm có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước. Quan điểm thứ ba, trong đồng phạm có tổ chức, những người đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm có sự câu kết với nhau lâu dài, cùng nhau phạm nhiều tội hoặc phạm một tội nhưng nhiều lần. Quá trình nghiên cứu, tác giả không đồng ý với các quan điểm nói trên. Cụ thể: 8 Đối với quan điểm thứ nhất, tác giả cho rằng đã tuyệt đối hóa những người trong đồng phạm, việc tuyệt đối hóa này đã thu hẹp việc xác định đồng phạm có tổ chức.
Thực tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cho thấy, trong đồng phạm có tổ chức thường có sự phân công vai trò, vị trí giữa những người cùng thực hiện tội phạm nhưng nó không phải là dấu hiệu bắt buộc. Có những trường hợp, những người đồng phạm có tổ chức có sự câu kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện tội phạm nhưng đều giữ vai trò là người thực hành mà không có người tổ chức, người xúi giục hoặc là người giúp sức. Đối với quan điểm thứ hai, tác giả cho rằng chưa hợp lý, bởi quan điểm đã đồng nhất giữa cái chung và cái cụ thể. Trong đó: đồng phạm có thông mưu trước là cái chung, đồng phạm có tổ chức là cái cụ thể, không thể đồng nhất cái chung với cái cụ thể.
Xét về bản chất, đồng phạm có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất, đồng phạm có tổ chức đúng là hình thức đồng phạm có thông mưu trước, nhưng đồng phạm có thông mưu trước không chỉ bao gồm đồng phạm có tổ chức. Phạm vi của đồng phạm có thông mưu trước sẽ rộng hơn đồng phạm có tổ chức và xét về mức độ tính nguy hiểm cho xã hội, đồng phạm có tổ chức có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm có thông mưu trước. Đối với quan điểm thứ ba, tác giả cho rằng đã quá thu hẹp việc xác định phạm vi của những vụ án đồng phạm có tổ chức, bởi chỉ những tội phạm chủ yếu được quy định ở trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia có mục đích chống chính quyền nhân dân mới thỏa mãn được những điều kiện có sự câu kết với nhau lâu dài, cùng nhau phạm nhiều tội hoặc phạm một tội nhưng nhiều lần. Trong khi đó, BLHS ngoài quy định đồng phạm có tổ chức là dấu hiệu định khung tăng nặng TNHS còn quy định đồng phạm có tổ chức là tình tiết tăng nặng TNHS.
Nếu theo quan điểm trên thì dấu hiệu đồng phạm có tổ chức không được quy định trong những tội phạm cụ thể và các tình tiết 9 tăng nặng TNHS, điều này không phù hợp trên thực tế đồng thời giảm nhẹ hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm trên thực tiễn. Như vậy, các quan điểm khác nhau xung quanh chế định đồng phạm có tổ chức đều cho rằng đồng phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt. Tuy nhiên do sự ghi nhận còn chung chung, chưa làm rõ được sự “câu kết chặt chẽ” trong đồng phạm có tổ chức nên còn có nhận thức khác nhau về hình thức đồng phạm này. Sự câu kết chặt chẽ của những người cùng thực hiện tội phạm trong đồng phạm có tổ chức chính là đặc điểm chủ yếu thể hiện bản chất của chế định đồng phạm có tổ chức, đồng thời cũng nói lên các dấu hiệu đặc trưng riêng về mặt khách quan và chủ quan của chế định này.
Vấn đề đặt ra là sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm trong đồng phạm có tổ chức được thể hiện như thế nào. Sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm trong đồng phạm có tổ chức thể hiện mức độ liên kết về khách quan và chủ quan của những người đồng phạm. Phần I, Nghị quyết số 02-/HĐTP/NQ ngày 16 tháng 11 năm 1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05 tháng 01 năm 1986 đã xác định sự câu kết chặt chẽ trong đồng phạm có tổ chức. Mặc dù Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 16 tháng 11 năm 1988 và Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05 tháng 01 năm 1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985.
Tuy nhiên xét về bản chất, chế định đồng phạm có tổ chức trong BLHS năm 1985, năm 1999, năm 2015 cũng như các lần sửa đổi, bổ sung không thay đổi. Do vậy, căn cứ vào nội dung Nghị quyết, tác giả cho rằng đồng phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt, trong hình thức đồng phạm này có sự phân công vai trò giữa người trực tiếp thực hiện tội phạm với người không trực tiếp thực hiện tội phạm (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức). Trong đồng phạm có tổ chức, dấu hiệu phạm một tội nhiều lần hoặc 10 phạm nhiều tội cũng như sự câu kết lâu dài giữa những người đồng phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của hình thức đồng phạm này. Căn cứ quy định của BLHS, cùng với sự phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về đồng phạm có tổ chức như sau: Đồng phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt,được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, trong đó những người cùng thực hiện tội phạm có sự câu kết chặt chẽ thông qua chính cơ cấu tổ chức (băng, nhóm…) và sự bàn bạc, tính toán, phân công, lên kế hoạch nhằm thực hiện tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Đặc điểm của đồng phạm có tổ chức Đồng phạm có tổ chức là một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà ở đó những người thực hiện tội phạm có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện tội phạm. Đồng phạm có tổ chức có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, đồng phạm có tổ chức là một hình thức đồng phạm Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đã ghi nhận đồng phạm có tổ chức trước là một hình thức đồng phạm, do vậy đồng phạm có tổ chức có đầy đủ những dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan của đồng phạm. Cụ thể: Về khách quan, số lượng người trong đồng phạm có tổ chức phải có từ hai người trở lên và những người trong đồng phạm có tổ chức phải thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm. Cùng với đó, những người trong đồng phạm có tổ chức phải cùng thực hiện tội phạm.