Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hợp đồng dân sự là phương thức pháp lý nền tảng để các cá nhân, tổ chức thiết lập giao dịch, thỏa mãn các lợi ích kinh tế - xã hội. Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam đòi hỏi phải có sự đổi mới, tương thích với các quy tắc thương mại và nguyên tắc hợp đồng quốc tế. Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005, mang lại nhiều điểm mới quan trọng trong chế định hợp đồng, đặc biệt là các quy định liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành chưa đồng bộ, tạo ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quang Huy, sinh viên lớp PL2102, Khoa Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (hướng dẫn bởi Th.S Lê Thu Trang), lựa chọn nghiên cứu đề tài "Giao kết, thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015" nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách này.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao kết và thực hiện hợp đồng; đồng thời tham chiếu các quy định pháp luật quốc tế để đề xuất các giải pháp lập pháp khả thi. Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về giao kết và thực hiện hợp đồng, thiết lập nền tảng khoa học cho toàn bộ bài luận.
  2. Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng thông qua việc so sánh đối chiếu Bộ luật Dân sự năm 2015 với Bộ luật Dân sự năm 2005, các chuẩn mực quốc tế và các bản án thực tế.
  3. Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao kết và thực hiện hợp đồng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao kết, thực hiện hợp đồng; thực tiễn áp dụng các quy định này qua các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Đề tài không dàn trải toàn bộ chế định hợp đồng mà tập trung vào các điểm mới nổi bật của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 về giao kết hợp đồng (đề nghị, chấp nhận đề nghị, thời điểm giao kết) và thực hiện hợp đồng (nguyên tắc bồi thường thiệt hại, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định Việt Nam, đối chiếu với các nguyên tắc hợp đồng quốc tế (CISG, PICC, PECL); đồng thời gắn với địa bàn thực tập thực tế tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hải Phòng (Lô C6, Trung tâm Hành chính Quận Hải An, Đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Hải, Quận Hải An, TP. Hải Phòng).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được giao ngày 13/12/2021 và hoàn thành trước ngày 02/04/2022; mốc dữ liệu pháp lý trọng tâm xoay quanh giai đoạn từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ban hành đến quá trình thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ 01/01/2017 đến năm 2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên khung lý thuyết chuẩn tắc của khoa học luật dân sự về bản chất của hợp đồng như một sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng. Nghiên cứu tiếp cận lý luận về hành vi pháp lý đơn phương trong đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết; nguyên tắc tự do hợp đồng song hành cùng nguyên tắc thiện chí, trung thực; nguyên tắc bảo tồn hiệu lực hợp đồng (favor contractus); và học thuyết pháp lý về thay đổi hoàn cảnh cơ bản (rebus sic stantibus hay hardship).

Nền tảng văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu học thuật được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
  • Bộ nguyên tắc và điều ước quốc tế: Công ước Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG); Bộ Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế của UNIDROIT (PICC phiên bản 1994, 2010); Bộ Nguyên tắc Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL).
  • Tài liệu học thuật chuyên sâu: Giáo trình Luật Dân sự 1 và 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội (2021); sách bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của PGS. Nguyễn Văn Cừ - PGS. Trần Thị Huệ (2017), TS. Nguyễn Minh Tuấn (2017), PGS. Đỗ Văn Đại (2016); chuyên khảo của TS. Lê Minh Hùng (2015); các công trình nghiên cứu của GS. Vũ Văn Mẫu, TS. Lê Minh Hùng, Nguyễn Văn Phái, Trần Quỳnh Anh, Vũ Đức Lịch, Thái Thị Hải Yến, Trần Hồng Anh.

Phương pháp luận chỉ đạo nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Bên cạnh đó, tác giả phối hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích: Được áp dụng xuyên suốt ở cả 3 chương để làm rõ các khái niệm, cấu trúc điều luật và bản chất pháp lý của giao kết, thực hiện hợp đồng.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng chủ đạo tại Chương 2 để đối chiếu các quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời đối sánh quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế như CISG, PICC và pháp luật một số nước (như Anh, Singapore).
  • Phương pháp chứng minh: Đưa ra các chứng cứ cụ thể từ thực tiễn xét xử, số liệu trích dẫn từ các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân Tối cao để minh chứng cho các lập luận pháp lý.
  • Phương pháp tổng hợp và dự báo khoa học: Dùng để đúc kết các đánh giá ở phần kết luận chương và dự báo xu hướng quan hệ dân sự, từ đó đề xuất các sửa đổi lập pháp phù hợp.

Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ các quyết định giám đốc thẩm, bản án của Tòa án nhân dân Tối cao (như Quyết định số 14/2006/DS-GĐT ngày 06/6/2006; Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về Dân sự, Kinh doanh thương mại giai đoạn 2007 - 2009) và hồ sơ thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao kết, thực hiện hợp đồng

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận nền tảng cấu thành quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng:

  • Khái niệm và bản chất của giao kết hợp đồng: Tác giả đối chiếu các góc nhìn từ Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Đại học Luật Hà Nội) và TS. Lê Minh Hùng để khẳng định giao kết hợp đồng là một quá trình pháp lý gồm 3 yếu tố cốt lõi: sự tham gia của các bên; sự bày tỏ ý chí đơn phương của từng bên; và sự kết hợp các ý chí riêng lẻ để tạo nên sự đồng thuận.
  • Trình tự giao kết hợp đồng: Phân tích hai giai đoạn kế tiếp:
    • Đề nghị giao kết hợp đồng: Là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý định muốn xác lập hợp đồng theo 4 tiêu chí: người đề nghị có tư cách chủ thể; nội dung đề nghị rõ ràng, cụ thể (tác giả ủng hộ quan điểm GS. Vũ Văn Mẫu rằng đề nghị chỉ cần thể hiện nội dung tối thiểu, bản chất và chủ đích); đề nghị gửi cho một hoặc nhiều người xác định; bên đề nghị có ý muốn chịu sự ràng buộc thực sự (phân biệt với lời mời đàm phán, chào hàng).
    • Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Là lời hồi đáp đáp ứng 4 điều kiện: chủ thể có năng lực; nội dung chấp nhận thống nhất với đề nghị (đối chiếu quan điểm "ảnh và vật qua gương" với quan điểm chấp nhận nội dung cơ bản); trả lời trong thời hạn ấn định; hình thức thể hiện rõ ràng (chỉ coi im lặng là chấp nhận trong các ngoại lệ do luật định, tập quán hoặc thỏa thuận).
  • Thời điểm giao kết hợp đồng: Đánh dấu mốc xác lập hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, phân biệt giữa phương thức giao kết trực tiếp (người có mặt) và phương thức giao kết gián tiếp (người vắng mặt, qua thư tín, phương tiện liên lạc).
  • Lý luận về thực hiện hợp đồng và bồi thường thiệt hại: Thực hiện hợp đồng là việc các bên tiến hành hành vi làm hoặc không làm một việc để thỏa mãn quyền lợi đối lập tương ứng của bên kia. Về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, tác giả phân định tổn thất vật chất (tài sản mất mát, chi phí ngăn chặn, lợi tức đáng lẽ được hưởng) và tổn thất tinh thần; đồng thời viện dẫn nguồn gốc từ pháp luật La Mã về tính dự liệu trước của khoản lợi bị mất.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Chương này tập trung mổ xẻ thực trạng các quy định hiện hành và phân tích thực tiễn áp dụng thông qua các án lệ, vụ việc cụ thể:

  • Thực trạng quy định về giao kết: Đánh giá các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến đề nghị, chấp nhận đề nghị và thời điểm giao kết hợp đồng.
  • Thực trạng quy định về thực hiện hợp đồng: Phân tích chế định bồi thường thiệt hại và đặc biệt là chế định "Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản" quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Nghiên cứu vụ việc thực tế điển hình:
    • Vụ tranh chấp giữa Công ty TL và Công ty HP (Thái Bình, 2008 - 2009): Trong quá trình thi công xây dựng hạ tầng, giá vật liệu tăng đột biến từ 5% - 10%, riêng thép tăng 18%. Công ty TL đề nghị tăng giá nhưng Công ty HP không đồng ý. Do áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (không xem đây là bất khả kháng hay trở ngại khách quan), Tòa án sơ thẩm tuyên buộc Công ty TL phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, gây lỗ nặng. Tác giả đối chiếu và chứng minh: nếu áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, Công ty TL hoàn toàn đáp ứng đủ 5 điều kiện của "hoàn cảnh thay đổi cơ bản" để yêu cầu đàm phán lại hoặc đề nghị Tòa án can thiệp sửa đổi/chấm dứt hợp đồng.
    • Quyết định giám đốc thẩm số 14/2006/DS-GĐT ngày 06/6/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Tranh chấp mua bán kiốt từ năm 1992 giữa ông Thiết, bà Lới và ông Sơn, bà Thìn (giá 7,8 triệu đồng, đã thanh toán 4,8 triệu đồng). Sau 14 năm, Tòa án nhân dân Tối cao xác định bên mua phải thanh toán phần tiền còn thiếu theo thời giá thị trường để tái cân bằng lợi ích các bên, minh chứng cho thực tiễn can thiệp hợp lý của cơ quan tài phán vào hợp đồng.
  • Chỉ ra 6 bất cập lớn tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015:
    1. Điểm c khoản 1 chưa có tiêu chí định lượng rõ ràng cho cụm từ "hoàn cảnh thay đổi lớn" (đối chiếu với bình luận PICC 1994 đưa ra mốc 50% chi phí nhưng bị phê phán là tùy tiện).
    2. Khoản 3 chưa làm rõ khái niệm "thiệt hại" và "chi phí thực hiện hợp đồng" được tính toán, so sánh trên chủ thể nào (kể cả quyền lợi người thứ ba).
    3. Tranh cãi về quyền can thiệp của Tòa án giữa việc sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng liên quan tới nguyên tắc favor contractus (đối chiếu luật Anh không cho phép Tòa sửa đổi, chỉ chấm dứt; trong khi PICC 2010 ưu tiên sửa đổi).
    4. Khoản 4 quy định các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong quá trình đàm phán hoặc xét xử, thiếu vắng cơ chế áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ bên yếu thế trước hành vi cố tình trì hoãn của bên kia.
    5. Điều luật chỉ quy định thẩm quyền của Tòa án mà bỏ quên vai trò của Trọng tài thương mại, dù Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cho phép các bên thỏa thuận trọng tài.
    6. Hệ quả pháp lý của việc sửa đổi hợp đồng chưa được quy định rõ (về hiệu lực điều khoản mới, hình thức sửa đổi, bảo vệ quyền người thứ ba, luật áp dụng và thời hiệu khởi kiện).

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Chương 3 xây dựng các đề xuất lập pháp cụ thể nhằm tháo gỡ các vướng mắc đã nhận diện:

  • Hoàn thiện quy định về đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015):
    • Bổ sung quy định tiêu chí khách quan để xác định rõ "người được đề nghị", tham khảo Điều 14 Công ước CISG về mức độ chính xác của đề nghị (nêu rõ hàng hóa, ấn định số lượng, giá cả).
    • Quy định rõ 3 yếu tố cấu thành bắt buộc trong nội dung đề nghị: (1) Thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng; (2) Chứa đựng các nội dung chủ yếu của loại hợp đồng muốn xác lập; (3) Xác định rõ chủ thể được đề nghị, nhằm phân biệt rõ với lời mời chào hàng, báo giá, quảng cáo.
    • Bổ sung nguyên tắc giải thích ý chí theo chuẩn mực khách quan: hành vi và tuyên bố của một bên phải được giải thích theo nghĩa mà một "người có lý trí" đặt trong hoàn cảnh tương tự sẽ hiểu như vậy.
    • Hoàn thiện quy định điều chỉnh trường hợp đề nghị được đưa ra công khai trước công chúng.
  • Hoàn thiện quy định về chấp nhận đề nghị và thời điểm giao kết: Làm rõ cơ chế chấp nhận có sửa đổi không đáng kể và quy chuẩn hóa thời điểm giao kết gián tiếp phù hợp với phương tiện truyền thông tin điện tử.
  • Hoàn thiện chế định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420):
    • Cơ quan có thẩm quyền cần ban hành nghị quyết hướng dẫn tiêu chí xác định "thay đổi lớn", phân định rõ các yếu tố định lượng và định tính.
    • Bổ sung thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại song song với Tòa án khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp.
    • Bổ sung cơ chế cho phép tạm ngừng thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tranh chấp để tránh gây thiệt hại trầm trọng cho bên chịu tác động bất lợi.
    • Quy định chi tiết các hệ quả pháp lý sau khi hợp đồng được Tòa án hoặc Trọng tài sửa đổi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự phát triển của các quy phạm điều chỉnh giao kết, thực hiện hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra những chuyển biến lập pháp mang tính thích ứng cao của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005, đồng thời bóc tách các bất cập thực tế thông qua các số liệu và chứng cứ án lệ có thật trong văn bản.

Bảng tổng hợp đối chiếu quy định và các vướng mắc pháp lý trọng tâm được khóa luận phân tích:

Nội dung pháp lý Quy định tại BLDS năm 2005 Quy định tại BLDS năm 2015 Đánh giá thực tiễn & Bất cập chỉ ra
Xác định đề nghị giao kết (Điều 386) Chưa làm rõ tính xác định cụ thể của người nhận đề nghị Đã mở rộng khả năng đề nghị gửi đến công chúng Chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa đề nghị chính thức và lời mời chào hàng, báo giá
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420) Không có điều khoản riêng (chỉ áp dụng bất khả kháng, trở ngại khách quan) Bổ sung Điều 420 với 5 điều kiện xác lập, cho phép yêu cầu đàm phán lại, sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng Vụ Công ty TL - HP: trượt giá thép 18%, vật liệu 5-10% bị bác yêu cầu theo luật cũ; luật mới còn mơ hồ về tiêu chí "thay đổi lớn", thiếu thẩm quyền Trọng tài
Nghĩa vụ khi có tranh chấp thay đổi hoàn cảnh Không quy định Khoản 4: Vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ khi có thỏa thuận khác Dễ bị bên đối tác lợi dụng trì hoãn tại Tòa án để trục lợi; thiếu quyền yêu cầu biện pháp tạm thời bảo vệ bên yếu thế
Sự can thiệp của Tòa án vào hợp đồng Tòa án chỉ công nhận tính hợp pháp hoặc tuyên vô hiệu Tòa án được quyền sửa đổi hợp đồng nếu việc chấm dứt gây thiệt hại lớn hơn Án lệ giám đốc thẩm 14/2006/DS-GĐT đã can thiệp định giá lại kiốt (từ 7,8 triệu lên thời giá mới) để bảo đảm công bằng, phù hợp với tinh thần sửa đổi hợp đồng

Đóng góp khoa học riêng biệt mà tác giả tự khẳng định trong phần tổng quan là việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu của giai đoạn chuyển giao: trong khi các công trình trước đây chủ yếu dừng lại trên nền tảng Bộ luật Dân sự năm 2005 (như luận văn của Vũ Đức Lịch, Thái Thị Hải Yến), hoặc chỉ bình luận điều luật thuần túy lý thuyết (như các sách bình luận của PGS. Nguyễn Văn Cừ, TS. Nguyễn Minh Tuấn), thì khóa luận này đã kết hợp đồng thời ba trục: so sánh văn bản luật, phân tích vụ việc/án lệ thực tế tại Việt Nam và đối chiếu trực tiếp với các điều ước, nguyên tắc hợp đồng quốc tế (CISG, PICC, PECL).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những vấn đề chung nhất của giao kết và thực hiện hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015, không bao quát toàn bộ các hình thức giao kết đặc thù (như mua bán đấu giá, giao dịch cổ phiếu, giao dịch bảo đảm trên các sàn chuyên biệt). Đồng thời, do Bộ luật Dân sự năm 2015 mới đi vào đời sống và chưa có đầy đủ văn bản hướng dẫn chi tiết của Tòa án nhân dân Tối cao về Điều 420, số lượng các bản án áp dụng trực tiếp điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản được công bố trong giai đoạn này còn hạn chế, khiến việc đánh giá thực tiễn tài phán đối với quy định mới chủ yếu phải thông qua việc suy luận từ các vụ việc phát sinh trước đó.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hình là:

  • Tiếp tục theo dõi và khảo sát thực tiễn áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 qua các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân Tối cao sau khi có Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán.
  • Mở rộng phân tích các phương thức giao kết hợp đồng đặc thù, đặc biệt là giao kết thông qua các phương tiện điện tử và nền tảng kỹ thuật số hiển thị thời gian tự động.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật (đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế) cần tài liệu tham khảo có cấu trúc chặt chẽ về kỹ năng so sánh luật và kỹ năng phân tích án lệ.
  • Người làm nghiên cứu, giảng viên các trường đại học luật trong việc xây dựng bài giảng chuyên đề về chế định hợp đồng và trách nhiệm dân sự.
  • Thẩm phán, luật sư, trọng tài viên và cán bộ pháp chế doanh nghiệp (như kinh nghiệm thực tế tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hải Phòng) trong việc soạn thảo hợp đồng, dự liệu các điều khoản phòng ngừa rủi ro trượt giá, và vận dụng Điều 420 khi có biến động thị trường lớn.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận gồm: phần phân tích 5 điều kiện áp dụng Điều 420 gắn với tranh chấp trượt giá vật liệu xây dựng (vụ Công ty TL - HP) và hệ thống kiến nghị hoàn thiện Điều 386 gắn với chuẩn mực của Công ước CISG.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài khóa luận do ai thực hiện, thuộc cơ sở đào tạo nào và hoàn thành vào thời gian nào?
Khóa luận do sinh viên Trần Quang Huy (Mã SV: 1712901006, Lớp PL2102) thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Thu Trang tại Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng. Đề tài được giao ngày 13/12/2021 và hoàn thành trước ngày 02/04/2022.

Điểm mới mang tính cốt lõi trong chế định thực hiện hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015 được tác giả tập trung mổ xẻ là gì?
Đó là chế định "Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản" quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, cho phép các bên yêu cầu đàm phán lại hoặc đề nghị Tòa án can thiệp sửa đổi, chấm dứt hợp đồng khi có biến động khách quan lớn phá vỡ cân bằng lợi ích ban đầu.

Vụ việc thực tế nào được tác giả phân tích để chứng minh sự cần thiết của quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản?
Đó là vụ tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa Công ty TL và Công ty HP tại Thái Bình (2008 - 2009). Do giá vật liệu xây dựng tăng đột biến từ 5% - 10%, riêng thép tăng 18%, Công ty TL bị thua lỗ nặng nhưng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Tòa án vẫn buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng vì biến động giá không thuộc trường hợp bất khả kháng hay trở ngại khách quan.

Tác giả đã chỉ ra bất cập gì liên quan đến thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015?
Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định thẩm quyền can thiệp của Tòa án mà không đề cập đến Trọng tài thương mại. Điều này dễ dẫn đến cách hiểu sai lệch rằng Trọng tài không có quyền giải quyết hệ quả của hoàn cảnh thay đổi cơ bản, xung đột với quy định tại Điều 2 và Điều 5 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Tác giả đề xuất học tập quy định nào của pháp luật quốc tế để hoàn thiện quy định về đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 386?
Tác giả đề xuất tham khảo Điều 14 Công ước CISG năm 1980 để bổ sung tiêu chí xác định tính chính xác của đề nghị giao kết (nêu rõ hàng hóa, ấn định số lượng và giá cả trực tiếp hoặc gián tiếp), đồng thời bổ sung nguyên tắc giải thích ý chí theo cách hiểu của một "người có lý trí" trong hoàn cảnh tương tự.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Quang Huy đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu đã chứng minh tính cấp thiết của các quy định mới thông qua việc đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005 và thực tiễn xét xử các vụ việc tranh chấp trượt giá vật liệu tại Tòa án. Trên cơ sở đối sánh với các chuẩn mực quốc tế như CISG và PICC, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Điều 386 và hoàn thiện chế định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015.