Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của việc định tội danh các tội phạm về ma túy 1. Khái niệm định tội danh các tội phạm về ma túy Định tội danh đối với tội phạm về ma túy là hoạt động nhận thức mang tính logic, để hoạt động nhận thức này được tiến hành một cách hiệu quả, chủ thể nhận thức. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, đề tài luận văn làm rõ hơn các nội dung về các tội phạm ma túy.
Cụ thể, các hành vi được xác định là cấu thành thành tội phạm về ma túy: Hành vi trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 192); Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý; chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 193, Điều 194); Các hành vi tổ chức sử dụng trái phép, chứa chấp việc sử dụng trái phép, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197, 198, 200); Các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 195); Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 196); Hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201). Theo quy định của BLHS năm 2015 thì thấy hầu hết các các tội phạm về ma túy đều được quy định là tội phạm có cấu thành hình thức nên hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm. 8 Về độ tuổi chịu TNHS, theo quy định tại Điều 12 BLHS 1999 thì: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, về độ tuổi chịu TNHS thì đối với các tội tại Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển tráiphép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) là từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, còn lại đối với các tội phạm về ma túy khác thì độ tuổi chịu TNHS là đủ 16 tuổi. Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh thì định tội danh là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [50, tr. Do đó dưới góc độ khoa học luật hình sự, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn theo quan điểm của học viên thì định tội danh có thể được hiểu là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và TAND), người tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi thực tế đã thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, từ đó xác định một người có phạm tội hay không, và phạm tội theo điều luật nào của BLHS. 9 Từ những phân tích trên và trên cơ sở khái niệm định tội danh, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể hiểu về định tội danh các tội phạm về ma túy như sau: định tội danh các tội phạm về ma túy là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án, nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi phạm tội trên thực tế với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm về ma túy, được quy định trong Chương XVIII từ Điều192 đến Điều 201 của BLHS năm 1999 (Chương XX từ Điều 247 đến 259 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó xác định một người có phạm tội về ma túy hay không và phạm tội theo điều luật nào của Chương này.
Đặc điểm định tội danh các tội phạm về ma túy Định tội danh các tội phạm về ma túy là định tội danh đối với một loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành của một quốc gia và là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan liên quan. Định tội danh các tội phạm về ma túy liên quan đến nhiều vấn đề trong đó liên quan rất nhiều đến vấn đề chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá. Định tội danh đối với tội phạm về ma túy có những đặc điểm được dựa trên những đặc điểm đặc trưng của tội phạm ma túy; Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy phải dựa vào cấu thành tội phạm vật chất của tội phạm được quy định trong BLHS. Định tội danh đối với tội phạm về ma túy phải được tiến hành trước, trên cơ sở đó mới có thể tiến hành được việc quyết định hình phạt.
Phân loại các trường hợp định tội danh các tội phạm về ma túy “Trong lý luận về Luật Hình sự căn cứ vào chủ thể tiến hành định tội danh và hậu quả của việc định tội danh, người ta phân biệt thành hai loại định tội danh:định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức” [50, tr. Như vậy, theo cách tiếp cận này, có thể phân chia định tội danh các tội phạm về ma túy ma túy làm hai dạng: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức. Định tội danh chính thức các các tội phạm về ma túy Định tội danh chính thức đối với tội phạm về ma túy là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực Nhà nước, chủ thể tội tiến hành hình thức định danh này được quy định trong BLTTHS, đó là tụng các cơ quan tiến hành tố và người tiến hành tố tụng. Định tội danh không chính thức các tội phạm về ma túy Chủ thể tiến hành định tội danh không chính thức đối với tội phạm về ma túy có thể là bất kỳ ai quan tâm đến VAHS và nắm được các tình tiết của vụ án đó, tuy nhiên chủ thể phổ biến của hoạt động định tội danh không chính thức đối với tội phạm về ma túy là các nhà khoa học, những người đang nghiên cứu luật hình sự [50].
Kết quả của định tội danh không chính thức đối với tội phạm về ma túy không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của người bị định tội danh vì không xuất phát từ quyền lực nhà nước và không đại diện choquyền lực nhà nước nên chủ thể của hoạt động định tội danh không chính thức không có quyền áp đặt các biện pháp cưỡng chế cho kết quả định tội danh của mình. Ý nghĩa của việc định tội danh các tội phạm về ma túy Định tội danh đối với tội phạm về ma túy là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng pháp luật.định tội danh đúng đối với các tội phạm về ma túy có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý rất lớn. Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội Định tội danh đối với tội phạm về ma túy nhằm mục đích bảo vệ quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, bảo vệ an ninh và trật tự xã hội; định tội danh đối với tội phạm về ma túy góp phần đưa các quy định của pháp luật, nhất là quy định của BLHS vào thực tiễn cuộc sống. Không chỉ có tính chất chính trị, định tội danh đối với tội phạm về ma túy còn là hoạt động mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, thể hiện qua một số khía cạnh cụ thể sau đây: Thông qua định tội danh đối với tội phạm về ma túy, Nhà nước ta thực hiện nghiêm những cam kết quốc tế về quyền con người thông qua việc bảo đảm về an toàn và an ninh, trật tự xã hội đấu tranh phòng chống lại hành vi phạm tội này.
Ý nghĩa về phương diện pháp lý Đối với pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự: hoạt động định tội danh đối với tội phạm về ma túy của TAND các cấp là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đúng, xác định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử cũng như thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp với quy định của BLTTHS hiện hành đối với người phạm tội nói chung Đối lập với định đúng tội danh là trường hợp có sự sai lầm trong định tội danh đối với tội phạm về ma túy. Định tội danh sai không chỉ làm choviệc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng, xâm phạm đến 12 quyền con người, quyền công dân mà còn dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự không có căn cứ, trái pháp luật. Cơ sở pháp lý của định tội danh các tội phạm về ma túy Có nhiều quan điểm của các nhà luật học về các căn cứ pháp lý của định tội danh: Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm thì những căn cứ pháp lý của định tội danh được hiểu dưới hai khía cạnh rộng và hẹp: “Ở khía cạnh rộng thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm.