ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề ô nhiễm các nguồn nƣớc đang trở lên ngày càng trầm trọng (nhất là nguồn nƣớc ngọt), đe dọa cuộc sống của loài ngƣời và gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống. Do đó, bảo vệ nguồn nƣớc, ĐDSH và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên này đang trở thành vấn đề sống còn của nhân loại. Trong các HST thủy vực thì HST hồ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hệ thống hồ cũng đƣợc coi nhƣ lá phổi xanh của thành phố, nhà máy điều hòa khí hậu tiểu khu vực.
Bên cạnh các chức năng là cấp nƣớc, tƣới tiêu cho nông nghiệp, du lịch - văn hóa - giải trí, thủy điện và phòng hộ thì hồ còn chứa nhiều nguồn tài nguyên phong phú, đó là một “ngân hàng gen” rất đa dạng, quý hiếm cần đƣợc bảo vệ. Do vị trí địa lý, kinh tế quan trọng của thủ đô, nên các hồ ở Hà Nội còn có vai trò lớn hơn nhiều, trong đó đặc biệt là hồ Tây đã đƣợc xếp vào danh sách các hồ cần đƣợc bảo vệ trên thế giới. Hồ Tây là một hồ tự nhiên, có diện tích lớn nhất của thủ đô Hà Nội. Hồ rất nổi tiếng với các giá trị đặc trƣng về danh lam thắng cảnh, các hoạt động du lịch, văn hóa - thể thao và gắn liền với lịch sử, tâm linh của ngƣời dân thủ đô, cũng nhƣ ngƣời dân Việt Nam từ bao đời nay.
Hồ Tây còn có giá trị đặc sắc về ĐDSH, chứa đựng nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng và độc đáo. Với việc tham gia công ƣớc Ramsar, Việt Nam có nghĩa vụ sử dụng khu vực này một cách hợp lý để vừa đạt hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ ĐDSH cũng nhƣ cảnh quan của nó. Về mặt pháp lý, thông báo số 72/TB-TW ngày 26/5/1994 của Bộ Chính Trị về một số vấn đề quy hoạch và xây dựng thủ đô Hà Nội đã nêu rõ: “Phải hết sức giữ gìn và tôn tạo những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, độc đáo của Hà Nội, nhất là vẻ đẹp của các hồ lớn”. Đồng thời, quyết định số 473/BXD/KTQH ngày 08/01/1994 của Bộ trƣởng Bộ Xây dựng cũng khẳng định: “Khu vực Hồ Tây phải được quy hoạch xây dựng thành trung tâm giao dịch quốc tế, trung tâm dịch vụ du lịch, trung tâm văn 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa thể thao và là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên phục vụ các hoạt động vui chơi giải trí của thủ đô”.
Qua đó có thể thấy sự quyết tâm của các cấp, các ngành trong việc quy hoạch và bảo vệ hồ Tây trƣớc tình trạng tính bền vững của HST này đang bị đe dọa do hoạt động xả thải bừa bãi của ngƣời dân xung quanh khu vực vào hồ và các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Chúng ta đều nhận thấy rằng quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế một cách nhanh chóng trong những năm qua đã làm cho mức độ ô nhiễm của hồ Tây ngày một gia tăng do lƣợng nƣớc thải đổ ra ngày một nhiều, điều này làm chất lƣợng nƣớc của hồ ngày càng suy giảm, làm biến đổi thành phần loài và khu hệ sinh vật của hồ Tây. Ngoài ra, biến đổi khí hậu với sự xen kẽ hạn hán và lũ lụt bất thƣờng đang ảnh hƣởng rất lớn tới sự ĐDSH của các loài sinh sống trong hồ. Tác động của con ngƣời đã khiến hai nhóm ĐDSH của hồ là thực vật thủy sinh và ĐVĐ bị suy thoái nghiêm trọng.
Nhiều loài đặc hữu của hồ đã mất đi, xuất hiện một số loài ngoại lai mới. Ô nhiễm bởi các nguồn thải từ vùng lƣu vực của các hoạt động du lịch trên hồ, kể cả các chất thải rắn cũng góp phần hủy hoại Hồ Tây. Hay nhƣ việc tiếp tục nuôi cá ở Hồ Tây gây áp lực đối với các loài cá bản địa, cô lập hồ với các thủy vực xung quanh. Nếu cộng cả hai hƣớng tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con ngƣời, rủi ro tiêu diệt ĐDSH, HST tự nhiên của Hồ Tây là rất lớn.
Hồ Tây lúc ấy sẽ bị vô sinh. Hà Nội hiện mới chỉ bảo vệ Hồ Tây theo hƣớng bảo vệ cảnh quan, khai thác hồ chống úng, phát triển du lịch, nuôi cá, không thấy bảo vệ theo hƣớng bảo tồn ĐDSH, bảo tồn HST tự nhiên. Với mục đích theo dõi diễn biến thành phần loài sinh vật của hồ Tây qua các năm để tìm ra nguyên nhân biến động ĐDSH loài và phƣơng hƣớng quản lý, sử dụng bền vững ĐDSH hồ Tây, chúng tôi thực hiện đề tài: “Diễn biến đa dạng thành phần loài sinh vật của hệ sinh thái hồ Tây”. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề tài gồm các mục đích chính sau: 1.
Điều tra các đều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng tới ĐDSH của hồ Tây. Điều tra hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc. Điều tra hiện trạng một số nhóm sinh vật trong hồ Tây. So sánh số liệu thu đƣợc qua một số năm để đánh giá diễn biến đa dạng thành phần loài sinh vật của HST hồ Tây.
Phƣơng hƣớng quản lý và sử dụng bền vững ĐDSH hồ Tây. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đa dạng các loài sinh vật ở Việt Nam ĐDSH là một giá trị không thể thay thế đƣợc, trƣớc tiên là đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật trong đó có con ngƣời, tiếp đến là về mặt kinh tế, văn hóa và giáo dục. Nhƣng quan trọng hơn cả là ĐDSH có một giá trị đặc biệt về khoa học và ứng dụng trong thực tiễn thuộc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, y tế và các lĩnh vực khác, do đó rất cần thiết để bảo tồn ĐDSH [1].
ĐDSH là cơ sở của sự sống, sự thịnh vƣợng của loài ngƣời cũng nhƣ của trái đất nói chung. Tuy nhiên, con ngƣời đã và đang khai thác nguồn tài nguyên này một cách quá mức dẫn tới sự suy thoái các HST, làm cạn kiệt nguồn ĐDSH, thậm chí hủy diệt nguồn tài nguyên quý giá đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mình. Bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn ĐDSH phục vụ cho cuộc sống là trách nhiệm của mọi ngƣời và trở thành những vấn đề nóng bỏng trong xã hội, tác động trực tiếp lên từng cá nhân cũng nhƣ toàn thể cộng đồng loài ngƣời trên khắp hành tinh. Những vấn đề bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn ĐDSH hiện nay cũng nhƣ mai sau vừa mang tính nhà nƣớc, vừa mang tính xã hội cao.
Việc giải quyết những vấn đề bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn ĐDSH hiện nay cũng nhƣ mai sau phụ thuộc vào trình độ nhận thức của ngƣời dân, những ngƣời hoạch định chính sách cũng nhƣ phụ thuộc vào trình độ dân trí, thái độ và hành vi của mọi tầng lớp trong xã hội. Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trƣng khí hậu khác nhau giữa các miền. Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lƣợng.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mức độ ĐDSH ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam với tính ĐDSH cao đã đƣợc công nhận là một trong các quốc gia cần đƣợc ƣu tiên cho bảo tồn toàn cầu. ĐDSH nhìn chung có ba giá trị chính là giá trị bảo vệ thiên nhiên và môi trƣờng (giá trị về chức năng sinh thái), giá trị kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp) và giá trị văn hóa, xã hội. Ngày nay bảo vệ ĐDSH đang đƣợc quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng lẻ của từng quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại.
Bởi vì bảo tồn tài nguyên ĐDSH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng nhƣ hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu. Việt Nam đã tham gia Công ƣớc ĐDSH từ năm 1994. Từ đó đến nay Chính phủ Việt Nam đã quan tâm và đầu tƣ một cách đáng kể cả nhân lực và tài chính để thực thi các cam kết và nghĩa vụ của mình đối với Công ƣớc. Năm 1995 Kế hoạch hành động ĐDSH đầu tiên của Việt Nam đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt.
Kể từ khi ban hành, Kế hoạch này là văn bản có tính pháp lý và là kim chỉ nam cho các hành động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam [8]. Tiếp đó ngày 31 tháng 5 năm 2007, Kế hoạch Hành động Quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt với các mục tiêu phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Theo công ƣớc ĐDSH năm 1992: ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, dƣới nƣớc, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên, ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các HST (đa dạng các HST). Trong đó: - Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài, những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể.
- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài đƣợc tìm thấy trong các HST tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đa dạng HST là sự phong phú về các kiểu HST khác nhau ở cạn cũng nhƣ ở nƣớc tại một vùng nào đó. HST là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trƣờng tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lƣợng và trao đổi thông tin. Đa dạng các loài sinh vật ở Việt Nam đã thống kê và xác định đƣợc: Đa dạng loài trong HST trên cạn Khu hệ thực vật: Có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao.
Trong đó có 10% số loài thực vật đặc hữu [23]. Khu hệ động vật: Cho đến nay đã thống kê đƣợc 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán kí sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trung, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú [23] .