mở đầu buổi trả bài (5- 8 phút) luôn yêu cầu người học phải chạy gam trên đàn (từ 0- 7 dấu hóa) với tốc độ nhanh và rất nhanh. Cùng với gam là hợp âm, hợp âm rải có nhiều biến thể, sắc thái khác nhau (rải dài, ngắn, gãy khúc, legato, staccato), qua đó người thầy chỉnh sửa, yêu cầu người học tạo tiếng đàn, đúng tốc độ chuẩn xác. Sau phần gam là bài kỹ thuật/Etude (từ 1- 2 bài) thông thường kéo dài khoảng 10- 15 phút với sự đòi hỏi rất cao về tốc độ, kỹ thuật di chuyển ngón tay nhằm giúp người học làm chủ kỹ thuật chơi đàn một cách lưu loát, tự nhiên. Khoảng thời gian còn lại trong 50 phút trả bài (từ 28- 30 phút) là phần học nặng nhất, đó là thể hiện các thể loại tác phẩm khác nhau từ tiền cổ điển đến hiện đại (2- 3 bài).
Lúc này, hoạt động của thày và trò tập trung vào thể hiện phong cách âm nhạc riêng từng nhạc sĩ (tác phẩm của W.Mozart có lối diễn tấu khác với L. Đặc biệt, người học được dạy kiến thức xử lý tác phẩm, tạo tiếng đàn, cách giải quyết các đoạn kỹ thuật khó. Sự phát triển khả năng biểu diễn của người học Piano qua từng buổi trả bài cho thấy dạy học chuyên ngành Piano đòi hỏi người thầy có trình độ chuyên môn sâu, có kinh nghiệm và nhiều thành công trong biểu diễn, ở mức độ cao còn đòi hỏi người thầy đã tham dự kỳ thi Piano quốc tế, một động lực cần thiết để người học có niềm tin trong học đàn Piano. Như vậy, dạy học đàn Piano chuyên nghiệp luôn hướng đến đào tạo tài năng âm nhạc, cụ thể là tài năng biểu diễn đàn Piano với vai trò độc tấu.
Qua đó, có thể nêu khái niệm: dạy học độc tấu đàn Piano là quy 13 trình sư phạm chuyên biệt nhằm phát triển tài năng cá nhân trong lĩnh vực biểu diễn Piano. Điều này lý giải vì sao rất nhiều người học đàn Piano phải bỏ dở giữa chừng, chuyển sang ngành khác do khả năng biểu diễn âm nhạc không phát triển. Dạy học đệm đàn Piano Cùng với sự phát triển nhanh của xã hội Việt Nam, nhu cầu âm nhạc của người dân ngày càng cao, các chương trình nghệ thuật diễn ra thường xuyên đòi hỏi trình độ nhạc công phải đáp ứng nhiều tiêu chí về lối chơi như nhạc nhẹ, dân gian, thính phòng. Đây là điều kiện, cơ sở hình thành các ban nhạc, nhóm nhạc có trình độ, kỹ thuật hòa âm, phối khí các thể loại ca múa nhạc.
Do đó, tại nhiều trường Nghệ thuật, trong đó có trường ĐHVHNT Quân đội, cùng với dạy học độc tấu đàn Piano cần đến một nội dung là hòa tấu ban nhạc với nhiều thủ pháp đệm của các nhạc cụ tham gia. Điều này dẫn đến yêu cầu phải trang bị cho người học đàn Piano những kỹ năng, kỹ xảo mới về đệm với các chức năng khác nhau như: đệm hát trên đàn Piano, đàn Piano là thành phần ban nhạc đệm, đặc biệt là sử dụng Piano để đệm cho múa (nói chung) và múa cơ bản (nói riêng). Về thuật ngữ, từ accompaniment trong tiếng Anh được chuyển ngữ tương đương ở tiếng Việt nghĩa là đệm với cách hiểu chung là sử dụng loại nhạc cụ nào đó để đệm. Khi đệm bằng đàn Piano, thuật ngữ tiếng Anh là Piano accompaniment, có nghĩa sử dụng đàn Piano vào đệm cho ai hát hoặc nhạc cụ nào đó độc tấu.
Nếu dùng đàn Piano đệm hát, tiếng Anh có cụm từ: Sing with Piano accompaniment, đệm bằng đàn phím điện tử là: accompanied on Keyboard.Như vậy, đệm đàn Piano là cách nói phổ biến nhằm nêu rõ mục đích sử dụng đàn Piano vào mục đích nhằm xác định cụ thể vai trò của đàn Piano trong từng điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. 14 Nhìn lại cách đây khoảng 40 năm (những năm 70, thế kỷ XX) người đệm đàn Piano ở Việt Nam không nhiều, chủ yếu tập trung tại đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và tại Nhạc viện Hà Nội, phổ biến là đệm Piano cho đàn Violin độc tấu, ngoài ra còn đệm hát. Đén những năm 90, thế kỷ XX, hàng loạt các ban nhạc xuất hiện chuyên đệm cho ca sĩ, nghệ sĩ độc tấu nhạc nhẹ, đàn Piano đã phát huy thế mạnh và trở thành cây đàn chủ lực trong ban nhạc, dàn nhạc. Khi dùng đàn Piano đệm cho múa, tiếng Anh có cụm từ: Piano accompaniment for dance, đây là ngôn ngữ chuyên ngành múa, được sử dụng trong các giờ dạy học tại các cơ sở đào tạo múa ở Việt Nam và trên thế giới.
Đối với dạy học đàn Piano hiện nay, phần học đệm cho múa hầu như chưa có tài liệu, giáo trình nào đề cập. Điều này là một khiếm khuyết khi đàn Piano đệm cho múa rất cần thiết và không thể thiếu. Khác với đệm hát, đệm Piano cho múa đòi hỏi những khả năng riêng biệt của người đệm ngoài yếu tố kỹ thuật, sự thể hiện và xử lý bài. Đây là một quá trình lâu dài, gian khổ, đòi hỏi người đệm Piano cho múa phải có trình độ, hiểu biết nghệ thuật múa để thể hiện chính xác nhịp điệu, tốc độ, sắc thái âm nhạc, đưa vào bài đệm những cảm xúc giúp người múa hứng khởi, thăng hoa.
Từ những thuật ngữ đã nêu, khái niệm đệm đàn Piano có nghĩa: sử dụng kỹ thuật, khả năng sáng tạo trong biểu diễn đàn Piano để đệm cho hát, múa và các loại nhạc cụ khác độc tấu. Khái niệm đã trình bày những đặc điểm chung khi sử dụng đàn Piano với vai trò đệm. Điều này tạo cho đàn Piano có vị thế mới trong hoạt động biểu diễn, khẳng định sự phong phú, đa dạng trong chức năng đệm cho hát và các loại nhạc cụ khác độc tấu. Đồng thời cũng nêu rõ khả năng, tác dụng của đàn Piano trong đệm cho múa ở Việt Nam.
Múa cơ bản 15 Nếu như âm nhạc là nghệ thuật thời gian, thì múa là nghệ thuật không gian. Đặc điểm nổi bật của múa là động tác, tư thế do con người sáng tạo nên. Trong huấn luyện múa, yêu cầu đầu tiên người học phải thành thạo động tác nhiều phong cách, thể loại múa được biên đạo, dàn dựng thành từng tổ hợp khác nhau. Tên gọi múa cơ bản bao hàm những động tác đặc trưng, từ bước chân đi, guộn tay, lắc hông, xoay gót.
Do đó, múa cơ bản ở Việt Nam bao gồm 3 phong cách chủ đạo, tích hợp từ nghệ thuật múa: múa cổ điển châu Âu, múa dân gian Việt Nam và múa đương đại. Như vậy, múa cơ bản chứa đựng trong đó những giá trị, đặc điểm của các loại hình múa quốc tế và Việt Nam. Trước khi nêu khái niệm, người viết luận văn trình bày cụ thể, rõ ràng các phong cách múa trong đào tạo múa cơ bản hiện nay. - Múa cổ điển châu Âu: ở Việt Nam múa cổ điển châu Âu là sự tập hợp nhiều phong cách múa Ballet các nước châu Âu, trong cuốn sách Múa cổ điển châu Âu, Costravitakaia, A.Pisarep nêu rõ nguồn gốc, sự hình thành: Múa cổ điển châu Âu ra đời vào khoảng thế kỷ 16 ở một số nước nhứ Ý, Pháp, Anh.và được truyền bá sang nhiều nước khác.và ngày nay, múa cổ điển châu Âu hầu như được phổ biến rộng rãi trên khắp các châu lục và được xem như một thành tựu văn hóa chung của xã hội loài người [56,tr.
Do đó, múa cổ điển châu Âu là tên gọi chung, trong đó nghệ thuật múa Ballet đóng vai trò cơ bản, xuyên suốt. Cần nhắc lại lịch sử trong hàng trăm năm qua, múa Ballet trở thành dấu ấn tiêu biểu của văn hóa châu Âu, đem lại những vẻ đẹp giàu tính thẩm mỹ. Múa Ballet nổi tiếng với động tác uyển chuyển, chính xác, mang tính biểu tượng khái quát cao. Sự phát triển ngày càng hoàn thiện của Ballet theo xu hướng kịch hóa múa (còn gọi là các vở múa), có cốt chuyện đã thúc đẩy các sáng tác âm nhạc cho Balett đạt tới những giá trị mới.
Ngay từ khi Ballet xuất hiện, âm nhạc đã trở thành bộ phận hữu cơ, song hành 16 cùng múa. Hiệu quả của âm nhạc đối với Ballet được khẳng định, bởi là nhân tố, động cơ thúc đẩy múa phát triển về chất và lượng. Âm nhạc trong Ballet luôn gợi mở hình tượng nghệ thuật, tạo nên các nút thắt kịch tính, dẫn dắt tình tiết trong vở Balett, trong đó nổi bật lên là tạo những xúc cảm đến người xem. - Múa dân gian Việt Nam: trong ngành múa, thuật ngữ tiếng Anh: Viet Nam Folk Dance được chuyển ngữ tiếng Việt nghĩa là: múa dân gian Việt Nam.
Hiện nay, múa dân gian Việt Nam đã có những biến chuyển lớn, trước hết là các bộ giáo trình múa dân gian được trường CĐ Múa Việt Nam in và xuất bản [tài liệu tham khảo: 22, 23, 37, 38, 39, 54], đây là nền tảng cho các trường Nghệ thuật đào tạo múa tổ chức giảng dạy.Lê Ngọc Canh khẳng định: muốn tìm hiểu cốt cách văn hóa mỗi cộng đồng tộc người, mỗi quốc gia thì trước hết hãy đến với văn hóa dân gian, mà nghệ thuật múa là một biểu hiện [3,tr. Tầm quan trọng của nhiều thể loại múa dân gian Việt Nam đã trở thành trung tâm điểm mang tính cốt lõi trong huấn luyện múa, đặc biệt là múa cơ bản, giúp người học nắm vững các động tác, hình thể, ngôn ngữ múa của 54 thành phần tộc người ở Việt Nam. Hiểu một cách khái quát nhất, múa dân gian Việt Nam đang chuẩn hóa, tạo nên phong cách múa mang đặc điểm văn hóa dân tộc Việt Nam. Do đó, trong đào tạo múa cơ bản hệ Trung cấp tại trường ĐHVHNT Quân đội, múa dân gian Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn chương trình đào tạo cùng với múa cổ điển châu Âu.
- Múa đương đại: thuật ngữ múa đương đại/contemporary dance xuất hiện, du nhập vào Việt Nam được phát triển, kế thừa từ múa hiện đại/modern dance được phổ biến thành trào lưu tại các nước phương Tây từ những năm 50, thế kỷ XX. Đây là sự cách tân, đổi mới múa Ballet kết hợp với nhiều thể loại, phong cách múa ngoài châu Âu. Múa đương đại với đặc trưng vừa thu nhận vừa phát triển các loại kỹ thuật múa của 17 nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Ví dụ: khi kết hợp giữa Ballet với nhảy Hiphop hoặc Breakdance (một kiểu nhảy đường phố phổ biến ở Mỹ) đã tạo những hiệu ứng mới.
Hoặc Ballet giao thoa với bước nhảy theo vũ điệu Latin như Rhumba, Bolero.để đưa ra ngôn ngữ biểu hiện khác lạ so với múa Ballet cổ điển trước đó.