Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của đề tài 1. Cơ sở lý luận Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về đất đai. Đất đai là do tự nhiên tạo ra, có trước con người và là cơ sở để tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người cho ta thấy đất đai là một nguồn tài nguyên vô giá và chứa đựng sẵn trong đó các tiềm năng của sự sống, tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và chính con người trên trái đất này. Vì vậy, đất đai có vai trò ngày càng quan trọng. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, tham gia trực tiếp vào đời sống kinh tế - xã hội, có vị trí cố định, không di chuyển được cũng không thể tạo thêm, tuy nhiên đất đai lại có khả năng tái tạo thông qua độ phì của đất. Con người không thể tạo ra đất đai nhưng bằng chính sức lao động của mình tác động trở vào đất, cải tạo đất để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống của con người.
Vì thế đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng đầy đủ, tiết kiệm, hợp lý, đem lại hiệu quả cao nhất. Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Người sử dụng có quyền lợi và phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Điều 4, Luật đất đai năm 2013 đã xác định rõ, cụ thể nội hàm của sở hữu toàn dân về đất đai, đó là: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này (Luật Đất đai, 2013). Công tác bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thức chất là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời giám sát họ trong việc thực hiện nghĩa vụ sử dụng đất nhằm đảm bảo lợi ích chung cho Nhà nước, cho toàn xã hội trong quá trình khai thác sử dụng đất đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm sâu sắc. 5 Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là điều kiện đảm bảo để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ, đảm bảo việc sử dụng đất có hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất và phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình sử dụng, quản lý nhà đất.
Đối tượng để Nhà nước thực hiện quản lý đất đai là toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ của từng đơn vị hành chính. Vì vậy Nhà nước muốn quản lý tốt thì phải nắm chắc toàn bộ thông tin về nhà đất như: Tên chủ sử dụng, vị trí, kích thước, diện tích, hạng đất, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng, những ràng buộc về quyền sử dụng, những thay đổi biến động trong quá trình sử dụng đất. Những thông tin về nhà đất phải được thể hiện chi tiết, chính xác cho từng thửa đất, từng ngôi nhà theo một hệ thống. Với những yêu cầu này việc thực hiện kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận sẽ thiết lập được một hệ thống hồ sơ địa chính một cách đầy đủ nhất, chi tiết nhất trên cơ sở thực hiện đồng bộ các nội dung: đo đạc lập bản đồ địa chính, quy hoạch sử dụng đất, giao đất, phân hạng đất.
Khi đã lập được hồ sơ nhà đất rồi thì mọi biến động về nhà đất xảy ra đều có thể nắm bắt được thông qua quá trình đăng ký biến động. Tất cả các vấn đề tranh chấp nảy sinh đều có thể giải quyết dựa trên hệ thống văn bản gốc và các số liệu hồ sơ đầy đủ của hồ sơ nhà đất hình thành trong qúa trình kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận. Có thể nói công tác kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai đã được quy định trong Luật đất đai hiện hành.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là việc làm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là cơ quan hành pháp - Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công tác của ba cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính đem lại những lợi ích đối với công dân, Nhà nước và xã hội là: * Giám sát hiện trạng sử dụng đất: Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp Nhà nước nắm chắc thông tin về chủ sử dụng đất, thông tin từng 6 thửa đất. Những thay đổi trong quá trình sử dụng đất được ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua đó Nhà nước kiểm soát được các giao dịch về đất đai.
* Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là tài liệu phục vụ việc đánh giá tính hợp lý của hệ thống chính sách pháp luật, hiệu quả trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật, đánh giá xem Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đi vào cuộc sống chưa. * Phục vụ quản lý trật tự xã hội: Thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ giúp cho công tác thống kê, kiểm kê đất đai, quản lý Nhà nước đối với các giao dịch liên quan đến bất động sản tốt hơn, làm lành mạnh thị trường bất động sản. Công dân sử dụng nhà, đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với tỷ lệ cao sẽ giúp họ yên tâm hơn vì quyền lợi hợp pháp của họ được Nhà nước bảo hộ. Làm cho xã hội văn minh thêm, nhân dân tin tưởng vào chính quyền hơn, góp phần vào việc đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch có âm mưu chống phá cách mạng nước ta.
* Cấp được giấy chứng nhận là làm tăng nguồn thu cho ngân sách: Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có đầy đủ thông tin người sử dụng đất, diện tích, hình thể, kích thước, vị trí, do đó khi cơ quan thuế xác định thuế sử dụng đất là chính xác theo định lượng, định hình và định tính. * Đảm bảo an sinh xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân: Việc tranh chấp đất đai mà một trong hai bên, hoặc cả hai bên đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc giải quyết đơn giản và nhanh gọn, hạn chế những mâu thuẫn láng giềng không đáng có, giúp ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở tổ dân phố hoàn thành nhiệm vụ, nhân dân đoàn kết cùng mặt trận Tổ quốc tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ngày một vững chắc, xây dựng Nhà nước thực sự là của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. * Tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình: Công dân phải sống và làm việc theo hiến pháp - pháp luật, công dân được phép làm những gì pháp luật không cấm, Khoản 1 Điều 105 Luật đất đai năm 2013 quy định người sử 7 dụng đất : “Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, như vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện quyền của mình như: Tăng cường về chủ quyền đối với đất đai, khuyến khích đầu tư cá nhân, mở rộng khả năng vay vốn, hỗ trợ giao dịch về đất đai, giảm tranh chấp,…(Luật đất đai, 2013). Cơ sở pháp lý Trong các thời kỳ khác nhau, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước để đảm bảo tính chặt chẽ, làm cơ sở pháp lý cho công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính thửa đất.
Cho đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính ngày càng được hoàn thiện giúp cho cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất có thể thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình thực hiện Luật đất đai 1993 đã xuất hiện nhiều vấn đề mới và có nhiều vấn đề chưa được đề cập đến. Tuy đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 1998 và 2001 nhưng vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho quá trình quản lý và sử dụng đất. Vì vậy ngày 26/11/2003, Luật đất đai 2003 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua, thay thế cho Luật đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều (của Luật đất đai năm 1993) năm 1998 và năm 2001.
Luật đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã một lần nữa khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.