phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, cấu trúc của Luận văn gồm 3 Chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu 3 CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải nguy hại 1. Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại Chất thải Theo định nghĩa của Công ƣớc Basel [1989] về Kiểm soát Chất thải Xuyên biên giới và việc Tiêu hủy chúng (gọi tắt là Công ƣớc Basel): chất thải là “Những chất hoặc vật thể bị thải bỏ, hoặc chuẩn bị bị thải bỏ hoặc bị các điều khoản của luật pháp quốc gia yêu cầu phải thải bỏ”. Theo Luật Bảo vệ môi trƣờng (BVMT) năm 2014, “Chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [10].
Chất thải nguy hại Công ƣớc Basel [1989] không đƣa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH mà đƣa ra các phụ lục trong Công ƣớc, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục 1 và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục 3, hoặc các chất do nƣớc sở tại quy định trong luật pháp của nƣớc đó, đƣợc coi là CTNH. Theo Luật BVMT năm 2014: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” [10]. Định nghĩa về CTNH trong Luật BVMT nhìn chung là đầy đủ và phù hợp trong điều kiện bối cảnh nghiên cứu là Việt Nam, vì vậy, tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa này làm định nghĩa chung cho CTNH trong luận văn. Trong phạm vi của luận văn, CTNH đƣợc đề cập là CTNH dạng rắn.
Theo thông tƣ 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 Quy định về quản lý chất thải nguy hại (đƣợc thay thế bằng Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT, tuy nhiên tại Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT đã bỏ mục Giải thích từ ngữ, trong đó có khái niệm Quản lý CTNH) [6]: Quản lý CTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lƣu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH. 4 Vận chuyển CTNH là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lƣu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế CTNH. Xử lý CTNH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của CTNH (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời. Sơ chế CTNH là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ-lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý nhƣ kích thƣớc, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, xử lý hoặc nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của CTNH cho phù hợp với các phƣơng pháp xử lý khác nhau.
Tái sử dụng trực tiếp CTNH là việc trực tiếp sử dụng lại các CTNH có nguồn gốc là các phƣơng tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đã qua sử dụng thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tƣ này theo đúng mục đích sử dụng ban đầu của phƣơng tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đó mà không qua bất kỳ khâu xử lý hay sơ chế nào. Các tính chất của chất thải nguy hại Tại Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy định về Quản lý Chất thải nguy hại, các tính chất nguy hại chính đƣợc tóm tắt nhƣ sau [7]: - Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trƣờng xung quanh. - Dễ cháy (C): Các chất thải dễ cháy đƣợc định nghĩa bao gồm: Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550°C; Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển; Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thƣờng, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa. 5 - Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thƣơng nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trƣờng hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phƣơng tiện vận chuyển.
Thông thƣờng đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5). - Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó. - Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố đƣợc cho là gây bệnh cho con ngƣời và động vật. - Có độc tính (Đ): Các chất thải có độc tính bao gồm: Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thƣơng nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đƣờng ăn uống, hô hấp hoặc qua da; Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hƣởng từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thƣ, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da.
- Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc từ từ đối với môi trƣờng, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ sinh vật. Những tính chất đƣợc liệt kê ở đây cũng tƣơng đồng với những tính chất đƣợc liệt kê ở Phụ lục 3 của Công ƣớc Basel. Phân loại chất thải nguy hại CTNH có thể đƣợc phân loại theo 2 cách cơ bản là theo đặc tính và theo nguồn phát sinh. Tuy nhiên, việc phân loại theo đặc tính gặp nhiều khó khăn bởi một CTNH có thể có nhiều hơn một đặc tính nguy hại.
Do đó, cách thức phân loại theo nguồn phát sinh (theo danh mục) là cách thức phổ biến hơn trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, CTNH đƣợc phân thành các loại sau [17]: CTNH đã đƣợc đƣa vào danh mục: những chất thải đã đƣợc Cục Bảo vệ môi trƣờng (EPA) xác định là CTNH, đƣợc đƣa vào danh mục và công bố rộng rãi. Các danh mục bao gồm: 6 Danh mục F (CTNH từ những nguồn không đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các quá trình công nghiệp và sản xuất thông thƣờng, ví dụ nhƣ dung môi đã sử dụng để tẩy rửa hoặc khử dầu mỡ. Do các quá trình làm phát sinh ra các chất thải này có thể diễn ra trong nhiều ngành khác nhau nên các CTNH thuộc danh mục F còn đƣợc gọi là chất thải từ những nguồn không đặc thù.
Danh mục K (CTNH từ những nguồn đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các ngành công nghiệp đặc thù nhƣ lọc dầu hoặc sản xuất thuốc BVTV. CTNH thuộc danh mục này có thể là một số loại bùn và nƣớc thải từ các quá trình sản xuất và xử lý thuộc các ngành công nghiệp đặc thù này. Danh mục U (các sản phẩm hóa chất thƣơng mại bị thải bỏ): danh mục này bao gồm các sản phẩm hóa chất thƣơng mại đặc thù khi đƣợc đƣa vào tình trạng không sử dụng. Một số loại thuốc BVTV hoặc dƣợc phẩm có thể trở nên nguy hại khi bị thải bỏ.
CTNH đặc tính: các chất thải không nằm trong các danh sách nêu trên nhƣng thể hiện một hoặc hơn một tính chất nguy hại nhƣ là dễ cháy, ăn mòn, phản ứng hoặc độc. CTNH đƣợc công nhận rộng rãi: ắc quy, thuốc bảo vệ thực vật, thiết bị chứa thủy ngân (nhƣ nhiệt kế) và các loại bóng đèn (nhƣ là đèn compact huỳnh quang). CTNH hỗn hợp: những chất thải vừa có tính phóng xạ vừa có các tính chất nguy hại. Đối với Liên minh châu Âu (EU), việc phân loại CTNH đƣợc dựa trên Catalô Chất thải châu Âu, đƣợc chỉnh sửa mới nhất vào năm 2009 [13], trong đó chất thải (và CTNH) đƣợc chia thành các nhóm ký hiệu từ 01 đến 20 dựa theo nguồn phát sinh.
Đây là cách tiếp cận đƣợc Việt Nam áp dụng để xây dựng danh mục CTNH (ban hành theo Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT, Phụ lục 1, mục B), trong đó CTNH có thể phân loại thành các nhóm nhƣ sau [7]: 01. Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than. Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất vô cơ. Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất hữu cơ.
Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các quá trình nhiệt khác. Chất thải từ quá trình luyện kim. Chất thải từ quá trình sản xuất thuỷ tinh và vật liệu xây dựng. Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu khác.
Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), keo, chất bịt kín và mực in. Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy. Chất thải từ ngành da, lông và dệt nhuộm. Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm).
Chất thải từ các cơ sở quản lý chất thải, xử lý nƣớc thải tập trung, xử lý nƣớc cấp sinh hoạt và công nghiệp. Chất thải từ ngành y tế và thú y. Chất thải từ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Chất thải từ hoạt động phá dỡ thiết bị, phƣơng tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng.
Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác. Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy. Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ. Các loại chất thải khác.