Đặt vấn đề Chúng ta đang sống trong một thời kì mà nguồn nƣớc ngày càng khan hiếm, môi trƣờng nƣớc đang bị ô nhiễm nặng nề. Đó là một trong những vấn đề bức xúc và nóng bỏng của thế giới, đặc biệt trong tình hình hiện nay toàn thể nhân loại đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng kết hợp cùng với những ảnh hƣởng từ tình trạng biến đổi khí hậu, cái giá mà chúng ta phải trả cao hơn rất nhiều. Việc ô nhiễm nguồn nƣớc sạch ảnh hƣởng trực tiếp tới sự thịnh vƣợng và cuộc sống của các dân tộc, cả hiện tại và trong tƣơng lai xa. Trong các quá trình hình thành sự sống trên Trái đất thì nƣớc và môi trƣờng nƣớc đóng vai trò rất quan trọng.
Cũng nhƣ không khí với ánh sáng, nƣớc không thể thiếu đƣợc trong đời sống con ngƣời. Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, con ngƣời có thể nhịn đói 3 tuần nhƣng sẽ chết nếu nhịn uống nƣớc 3 ngày. Nƣớc chiếm 99% trọng lƣợng sinh vật sống trong môi trƣờng nƣớc và 70% trọng lƣợng cơ thể ngƣời, mỗi ngƣời mỗi ngày cần 250 lít nƣớc cho sinh hoạt. Nƣớc tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia quá trình quang hợp,tham gia vào quá trình trao đổi chất dinh dƣỡng).
Trong quá trình trao đổi chất nƣớc đóng vai trò trung tâm. Những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nƣớc. Nƣớc là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đƣờng cho các muối đi vào cơ thể. Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc mƣa, nƣớc ngầm, nƣớc biển.
Nguồn nƣớc mặt, thƣờng đƣợc gọi là tài nguyên nƣớc mặt, tồn tại thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên trong các thủy vực ở trên trái đất nhƣ: Sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng, băng tuyết. Tài nguyên nƣớc sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, đƣợc n 2 sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nƣớc nói chung và tài nguyên nƣớc mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tài nguyên nƣớc mặt của nƣớc ta tƣơng đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lƣợng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nƣớc ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới.
Tuy nhiên hiện nay do sự gia tăng của dân số và phát triển kinh tế nên nhu cầu sử dụng nƣớc tăng nhanh và đƣa đến những tác động mạnh mẽ tới tài nguyên nƣớc đặc biệt đối với nguồn nƣớc mặt. Những hoạt động tự phát không có quy hoạch của con ngƣời nhƣ chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông, lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải trực tiếp vào các thủy vực…đã và đang làm cho nguồn nƣớc bị ô nhiễm: vấn đề khan hiếm nƣớc sạch ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất là ở những vùng ít mƣa. Sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nƣớc cũng nhƣ sự khan hiếm nguồn nƣớc sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nƣớc. Cũng vì lẽ đó mà ngƣời ta cho rằng, khủng hoảng nƣớc hiện nay không chỉ do nƣớc quá ít không đủ để thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời mà c òn do sự quản lý nguồn nƣớc quá kém gây nên hàng tỷ ngƣời và môi trƣờng gánh chịu hậu quả Nƣớc sạch nông thôn là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đƣợc Đảng và nhà nƣớc, Chính Phủ đặc biệt quan tâm, góp phần rất lớn vào mục tiêu cải thiện điều kiện sống và sức khỏe của ngƣời dân nông thôn, đẩy nhanh tốc độ xóa đói giảm nghèo và từng bƣớc hiện đại hóa nông thôn.
Xã Mỹ Bằng là một trong những xã trọng điểm xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Sơn, vấn đề nƣớc sạch sinh hoạt là một trong những vấn đề chính của tiêu chí môi trƣờng. Nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân trên n 3 địa bàn xã chủ yếu là sử dụng nƣớc giếng đào, giếng khoan, số hộ gia đình sử dụng nƣớc sạch do nhà nƣớc cung cấp còn thấp. Xuất phát từ nhu cầu sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn xã để đánh giá chất lƣợng nƣớc đang sử dụng, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm và từ đó đƣa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ gây ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch tại nông thôn, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Mỹ Bằng - Huyện Yên Sơn - Tỉnh Tuyên Quang". Mục tiêu chung - Tìm hiểu tình hình sử dụng nguồn nƣớc sinh hoạt tại huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang.
- Tìm hiểu về các phƣơng pháp bảo vệ nguồn nƣớc sinh hoạt tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc và phƣơng pháp bảo vệ nguồn nƣớc sinh hoạt tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Mục tiêu cụ thể - Tình hình sử dụng nguồn nƣớc sinhhoạt tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. - Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Mỹ Bằng - Huyện Yên Sơn - Tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm nƣớc sinh hoạt và cung cấp nƣớc sạch đáp ứng nhu cầu nƣớc sạch của ngƣời dân trên địa bàn xã. Yêu cầu của đề tài. - Đánh giá đúng hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt và nguồn gây ô nhiễm. Từ đó, đƣa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nƣớc trên địa bàn xã Mỹ Bằng.
- Đánh giá đƣợc điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mỹ Bằng n 4 - Số liệu thu đƣợc phải trung thực, khách quan, đầy đủ, chi tiết. - Nắm chắc Luật Bảo vệ môi trƣờng và các văn bản liên quan về môi trƣờng nƣớc. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Tạo cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế, cách thức tiếp cận và thực hiện một đề tài. - Là nguồn tài liệu trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Nâng cao nhận thức của bản thân về môi trƣờng 1. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc sinh hoạt và các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc.
- Cung cấp số liệu cho công tác quản lý môi trƣờng trên địa bàn xã và từ đó đƣa ra những giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng một cách phù hợp. - Củng cố các kiến thức và lý luận thực tiễn, về đánh giá, phân tích các chỉ tiêu trong môi trƣờng nƣớc, phục vụ cho công tác sau này. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm * Khái niệm Môi trƣờng: Theo UNESCO, môi trƣờng đƣợc hiểu là: “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con ngƣời tạo ra xung quanh mình, trong đó con ngƣời sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời”.
Theo Luật Bảo vệ Môi trƣờng (2014) của Nƣớc CHXHCN Việt Nam, thì môi trƣờng đƣợc khái niệm: “Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật”.[9] * Khái niệm Ô nhiễm môi trƣờng: Ô nhiễm môi trƣờng: Là sự thay đổi tính chất của môi trƣờng, vi phạm tiêu chuẩn môi trƣờng. Chất gây ô nhiễm môi trƣờng là những nhân tố làm cho môi trƣờng trở nên độc hại. Thông thƣờng tiêu chuẩn môi trƣờng là những chuẩn mực, giới hạn cho phép đƣợc quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trƣờng.[15] Theo Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014 của Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường” là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật”.[9] * Khái niệm Nguồn nƣớc sinh hoạt: Nguồn nƣớc sinh hoạt: là nƣớc dùng để ăn uống, vệ sinh con ngƣời. “Nƣớc sạch” là nƣớc đáp ứng tiêu chuẩn chất lƣợng nƣớc sạch Việt Nam.
n 6 * Khái niệm Ô nhiễm nƣớc: Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại đối với con ngƣời và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nƣớc. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hƣởng thì ô nhiễm nƣớc là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. * Ô nhiễm nƣớc: Theo Hiến chƣơng châu Âu đƣợc định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”[7]. * Khái niệm Suy thoái cạn kiệt nguồn nƣớc: Suy thoái cạn kiệt nguồn nƣớc: là sự suy giảm về chất lƣợng và số lƣợng của nguồn nƣớc.
* Khái niệm Bảo vệ tài nguyên nƣớc: Bảo vệ tài nguyên nƣớc: là biện pháp nhằm chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nƣớc, đảm bảo an toàn nguồn nƣớc và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nƣớc ( Điều 3, Luật tài nguyên nƣớc 1998) [10] 2. Các nguồn nước dùng trong sinh hoạt. - Nƣớc từ nhà máy cấp: là dạng nƣớc đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn nƣớc sạch. - Nƣớc ngầm: là một dạng nƣớc dƣới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời nhƣ cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dƣới bề mặt Trái đất, có thể khai thác cho hoạt động sống của con ngƣời, con ngƣời khai thác nƣớc ngầm dƣới 2 dạng: + Nƣớc từ giếng đào.
+ Nƣớc từ giếng khoan. Nguồn gốc của nƣớc ngầm: n 7 Nƣớc mƣa, nƣớc mặt và hơi nƣớc trong không khí ngƣng tụ lại thẩm thấu vào lòng đất tạo thành nƣớc ngầm. Nƣớc ngầm đƣợc giữ lại hoặc chuyển động trong các lỗ rỗng hay khe nứt của các tầng đất đá tạo nên tầng ngậm nƣớc. Khả năng ngậm nƣớc của tầng đất đá phụ thuộc vào độ nứt nẻ.
Các loại đất sét, hoàng thổ không chứa nƣớc. Ở nƣớc ta, một số nơi phát hiện nƣớc ngầm phong phú trong các trầm tích biển, trầm tích song và trong tầng vôi nứt nẻ.