Chương 1: Cơ chế quản lý và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Từ Liêm trước năm 1986. Chương 2: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1986 - 1995 Chương 3: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 - 2005) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TỪ LIÊM TRƢỚC NĂM 1986. Vài nét về thiên nhiên, con ngƣời huyện Từ liêm: Điều kiện tự nhiên: Huyện Từ Liêm nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thủ đô, trong toạ độ 1060 kinh Đông và 21010 độ vĩ Bắc. Phía Bắc giáp với huyện Đông Anh (bên tả ngạn sông Hồng); phía Đông giáp quận Cầu Giấy, Tây Hồ; phía Tây giáp huyện Hoài Đức, Đan Phượng; phía Nam giáp quận Thanh Xuân.
Từ Liêm nằm trong vùng đồng bằng phì nhiêu, lưu vực của các dòng sông Hồng, sông Nhuệ nên nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Đây không chỉ là nguồn cung cấp nước dồi dào mà còn giúp đất đai màu mỡ – một nhân tố rất quan trọng trong việc phát triển ngành trồng trọt của huyện. Đồng thời, khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt là cơ sở để huyện mở rộng, đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt, khí hậu mùa đông rất thích hợp với việc phát triển cây rau màu, cây thực phẩm vụ đông để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, nguyên liệu cho chăn nuôi, chế biến rau… Về giao thông vận tải: Từ xưa ở Từ Liêm đã có đường giao thông thuỷ bộ thuận tiện.
Phía Bắc có sông Hồng và hai nhánh là sông Tô và sông Nhuệ chạy dọc theo chiều dài của huyện, thuyền bè đi lại tấp nập. Trên tuyến đê sông Hồng có các bến đò cổ: Chèm, Sù, Kẻ qua sông sang xứ Kinh Bắc. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đường bộ có quốc lộ 11 (nay là quốc lộ 32) nối kinh đô với xứ Đoài (Sơn Tây) chạy ngang giữa huyện, đường 70 (Hà Đông- Thượng Cát). Đầu thế kỷ XX có thêm các đường hàng tỉnh như đường 23 (Yên Phụ- Chèm), đường 65 (Nhật Tân- Ngã Tư Sở), đường 69 (Dịch Vọng- Chèm).
Nay, huyện có nhiều tuyến giao thông huyết mạch: đường Phạm Hùng- Phạm Văn Đồng – cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài; đường Láng – Hoà Lạc (Trần Duy Hưng); đường đê hữu ngạn sông Hồng đi Sơn Tây. Do đặc điểm vị trí, Từ Liêm trở thành địa bàn có ý nghĩa cơ động và chiến lược về mặt quân sự. Miền đất này vừa là vành đai, áo giáp, hậu cứ bảo vệ thủ đô, vừa là cửa ngõ từ miền trung du, trung tâm quân sự Sơn Tây, căn cứ địa Việt Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiến vào thành phố. Với vị trí như vậy, Từ Liêm có nhiều lợi thế trong xây dựng căn cứ, phòng thủ cũng như tiến công kẻ thù.
Địa lý hành chính: Từ Liêm có từ đầu Công nguyên thuộc huyện Luy Lâu, sau thuộc quận Giao Chỉ. Đến năm 621 (sau Công nguyên) lập huyện Từ Liêm cùng hai huyện Ô Diên và Vũ Lập thuộc Từ Châu. Dưới thời Lý, Trần, huyện Từ Liêm thuộc quận Vĩnh Khang; thời Lê, Tây Sơn và đầu Nguyễn thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) là một trong ba huyện của phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Năm 1888, thực dân Pháp thành lập thành phố Hà Nội, một số xã thuộc huyện Từ Liêm trước đây được cắt vào khu ngoại thành Hà Nội.
Đến năm 1915, khu vực này đổi thành huyện Hoàn Long- tỉnh Hà Đông. Sau đó, vua Khải Định ra đạo dụ (26-12-1918) quy định cấp phủ ngang cấp huyện thì huyện Từ Liêm không còn chỉ còn phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông. Để mở rộng thành phố Hà Nội, ngày 31-12- 1942 Pháp quyết định cắt 23 làng thuộc phủ Hoài Đức cùng với huyện Hoàn Long lập ra “Đại lý đặc biệt”, nhân dân quen gọi là đại lý Hoàn Long, trụ sở ở ấp Thái Hà (nay thuộc quận 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phủ lỵ Hoài Đức đóng ở xã Dịch Vọng (nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy), sau ngày 9-3-1945 chuyển về xã Tây Tựu.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng chia lại thành nhiều đơn vị hành chính nhỏ và qua nhiều lần đổi tên: tháng 5 – 1946, ngoại thành chia thành 5 khu: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh. Đầu năm 1947, thực dân Pháp chiếm một số vùng ở ngoại thành nên 5 khu được tổ chức thành 3 quận: sáp nhập khu Lãng Bạc và Đại La để thành lập quận IV; chia 3 khu Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh thành hai quận V và VI. Từ tháng 12 – 1949 đến tháng 10-1953 thống nhất 3 quận IV, V, VI thành quận ngoại thành. Ngày 31-5-1961, thành phố Hà Nội được mở rộng, một số xã thuộc huyện Hoài Đức, Đan Phượng tỉnh Hà Đông cũ sáp nhập với quận V và quận VI ngoại thành Hà Nội, lập ra huyện Từ Liêm gồm 26 xã: Nghĩa Đô, Xuân La, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Thụy Phương, Đức Thắng, Phú Thượng, Nhật Tân, Tứ Liên, Quảng An (quận V); Trung Thành, Nhân Chính, Trung Hoà, Yên Hoà, Dịch Vọng, Mai Dịch, Hoà Bình, Mễ Trì (quận VI); Xuân Phương, Hữu Hưng, Cương Kiên huyện Hoài Đức); Tân Dân, Tân Tiến, Minh Khai, Trần Phú, Trung Kiên (huyện Đan Phượng).
Đến năm 1973, cắt xã Yên Lãng về khu phố Đống Đa (nay là quận Đống Đa). Năm 1995, lập quận Tây Hồ, huyện Từ Liêm bàn giao 5 xã về quận Tây Hồ;1 cuối năm 1996, chuyển xã Nhân Chính về quận Thanh Xuân;2 năm 1997, cắt 3 xã: Yên Hoà, Trung Hoà, Dịch Vọng và 4 thị trấn: Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy để thành lập quận Cầu Giấy. Huyện Từ Liêm ngày nay còn 16 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cầu Diễn và các xã: Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thuỵ Phương, Liên Mạc, Thượng Cát, Tây Tựu, Xuân Phương, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Trung Văn, Mễ Trì, 1 Theo Nghị định số 69/CP ngày 28-10-1995 của Thủ tướng Chính Phủ. 2,3 Theo Nghị định số 74/CP ngày 22-11-1996 của Thủ tướng Chính phủ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mỹ Đình, Phú Diễn, Minh Khai; có diện tích trên 75km2 (trong đó đất nông nghiệp khoảng 4100ha), với hơn 24,24 vạn người1.
Cư dân và bản sắc văn hoá: Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển nông nghiệp, Từ Liêm là một trong những địa bàn sinh tụ của cư dân Văn Lang thời dựng nước. Qua khai quật các di chỉ khảo cổ học ở thôn Ngọc Long (xã Minh Khai) cho thấy những di chỉ này thuộc văn hoá Phùng Nguyên- đầu thời đại đồng thau cách ngày nay khoảng 4000 – 3500 năm trước Công nguyên. Tại di chỉ Vinh Quang (địa phận xã Cát Quế, Di Trạch) trong tầng văn hoá lớp trên đã tìm thấy nhiều dụng cụ như lưỡi rìu chiến, búa chiến, mũi tên,.; cùng lớp đó, đã tìm thấy một số đồng tiền bán lạng Lữ Hậu (187- 180 trước Công nguyên). Tầng văn hoá này tiêu biểu cho giai đoạn 3 văn hoá Gò Mun.
Ở tầng văn hoá lớp dưới đã thấy nhiều công cụ sản xuất, đồ trang sức, tiền ốc, các loại đồ gốm có màu sắc, hoa văn trang trí phong phú và 11 sọ người niên đại các – bon phóng xạ di chỉ là 1095 năm trước Công nguyên. Các di chỉ đồng Dền, gò Chiền là tiêu biểu cho văn hoá Gò Mun. Ngôi mộ cổ khai quật ở khu vực Cầu Giếng (Thuỵ Phương) có niên đại khoảng 200 năm trước Công nguyên. Những viên gạch ( ở Xuân Đỉnh) được tráng men nâu mỏng xác định từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ III, cách ngày nay khoảng 2000 năm.
Nhiều ngôi mộ cổ được phát hiện dưới lòng đất làng Chèm – Vẽ (Thuỵ Phương- Đông Ngạc), đó là khu mộ Hán có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ VI (sau Công nguyên), thời nước ta thuộc Đông Hán. Di vật trong lòng mộ gồm: kiếm sắt, kiếm đồng, nhẫn vàng, bạc, tiền đồng, bình vò, cốc chén và cả mộ hình nhà, giếng nước, bếp lò bằng gạch nung. Những di vật ấy khẳng định huyện Từ Liêm lúc đó đã có cư dân sinh sống. 1 Theo Văn hoá Thông tin Hà Nôi, số 8-2004.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, ngay từ buổi đầu của lịch sử dân tộc, cư dân trên vùng đất này đã chung lưng đấu cật, cùng chung sức khai phá đất đai, chống chọi với thiên tai, địch hoạ, lập nên xóm làng trù phú. Nguồn sống chính của cư dân là sản xuất nông nghiệp cấy lúa, trồng màu, nuôi tằm, chăn nuôi,. Các di vật khai quật cho thấy trên vùng đất Từ Liêm lúc đó đã có một bộ phận cư dân sinh sống, cấu thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, chủ nhân của nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Từ Liêm xưa và nay luôn là vùng đất gắn bó chặt chẽ với Thăng Long – Hà Nội.
Bên cạnh cư dân bản địa từ xa xưa, còn có cư dân từ khắp các địa phương, qua nhiều thời đại đến làm ăn sinh sống, đùm bọc lẫn nhau. Ở địa bàn tiếp giáp với kinh kỳ, trải qua hàng ngàn năm lao động với đôi bàn tay khéo léo và sáng tạo, người dân Từ Liêm đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng. Nói đến rau, quả không thể không nhắc đến: su hào, bắp cải, cà chua, dưa hấu Tây Tựu, Phú Diễn; ngoài cam Canh (Xuân Phương) đã được ghi vào sử sách nghìn xưa, nay thêm bưởi Phú Diễn, Minh Khai, hồng xiêm Xuân Đỉnh làm giàu cho cây trái Thủ đô. Với truyền thống lao động cần cù, người dân Từ Liêm còn khéo léo chế biến ra các món ăn ngon như giò Chèm, nem Vẽ (Đông Ngạc, Thuỵ Phương), bánh đúc làng Kẻ (Thượng Cát), bánh tẻ làng Diễn (Minh Khai), bánh trung thu (Xuân Đỉnh).
Về tiểu thủ công nghiệp, nghề dệt thêu ren đạt kỹ nghệ tinh xảo ở Miêu Nha (Tây Mỗ), Đại Mỗ; làng Vẽ (Đông Ngạc), làng Dộc Cơ (Ngọc Trục) thạo nghề hàng nan với các sản phẩm: chẻ quang song, đan mũ nan, quạt lá đề, đĩa mây, ép dầu ở Đông Ba (Thượng Cát), làm thừng (Trung Văn), đậu phụ ở Đại Cát (Liên Mạc). Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (cuối thế kỷ XIX), Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Từ xưa nghề rèn ở Hoè Thị (Xuân Phương) đã kéo ra phố Lò Rèn và các cửa ô để sản xuất dao, kéo, lưỡi liềm, lưỡi hái, dao phát bờ,.phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.