Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1996 – 2000. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trƣớc năm 1996 1. Các điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Mỹ Đức * Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý Mỹ Đức là huyện nằm phía Tây Nam tỉnh Hà Tây, trung tâm huyện lỵ cách thị xã Hà Đông 38 km, cách Thủ đô Hà Nội 54 km về phía Tây Nam. Toạ độ địa lý từ 20035’40’’ đến 20043’40’’ vỹ độ Bắc và từ 105038’44’’ đến 105049’33’’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ (Hà Tây); phía Đông có dòng sông Đáy là ranh giới tự nhiên với huyện Ứng Hoà (Hà Tây); phía Tây giáp huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thuỷ (Hoà Bình); phía Nam giáp huyện Kim Bảng (Hà Nam). Tổng diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 23031,21 ha; trong đó đất nông nghiệp là 13411,26 ha, chiếm 58,23% tổng diện tích đất tự nhiên. Toàn huyện có 22 xã, trong đó có 1 thị trấn (thị trấn Đại Nghĩa) và 1 xã miền núi, với 38.686 hộ gia đình sinh sống ở 112 làng và 80 cơ quan, đơn vị doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện. Địa hình Mỹ Đức nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du.
Huyện có 3 dạng địa hình chính: - Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực trũng bao gồm 10 xã phía tây huyện. Độ cao trung bình so với mặt nước biển của dãy núi đá phía tây huyện từ 150m đến hơn 300m. Do phần lớn đá Kast bị nước xâm thực qua quá trình 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiến tạo lâu dài nên khu vực này hình thành nhiều hang động tự nhiên đẹp, giá trị du lịch và lịch sử rất lớn. - Địa hình đồng bằng gồm 12 xã, thị trấn ven sông Đáy.
Độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng từ 3,8m đến 7m so với mặt nước biển. Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh. Đồng thời có thế mạnh phát triển về hoa màu và các cây công nghiệp như ngô, khoai, đậu, lạc vừng, dâu tằm, trồng cây ăn quả. - Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía tây và đồng bằng phía đông là vùng chiêm trũng.
Vùng này có nhiều khu vực độ cao địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, hồ Cầu Dậm, Bán Nguyệt, Ngái Lạng, Đồng Suối với diện tích hàng ngàn ha…Vùng này giàu tiềm năng về phát triển du lịch, ngư nghiệp, chăn nuôi gia cầm, kết hợp với trồng một số cây ăn quả, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi phát triển mô hình kết hợp nuôi thuỷ sản – trồng cây ăn quả - phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng…phục vụ nhu cầu ngày càng cao của các đô thị xung quanh. Khí hậu, thời tiết Mỹ Đức nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ bình quân trong năm là 23,10C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 13,6 0C, cao nhất vào tháng 7 khoảng 33,20C. Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.
Lượng mưa trung bình năm là 1.520,7mm, phân bố không đều trong năm. Mùa mưa tập trung vào tháng 4 – 10, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 10, đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12 – tháng 2. Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%.
Về sông ngòi 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống sông ngòi huyện Mỹ Đức rất đa dạng và phong phú, bao gồm: - Hệ thống sông Đáy: là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy qua địa phận huyện Mỹ Đức dài 40 km. Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị bồi lấp mạnh. Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ. Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
- Sông Thanh Hà: là một nhánh của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi đá huyện Kim Bôi (Hoà Bình) và chảy vào sông Đáy tại cửa Đục Khê. Sông có chiều dài 28 km và diện tích lưu vực 390 km2. - Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có sông Mỹ Hà ở phía tây dài trên 30m và các kênh lớn như kênh tiêu 7 xã, kênh dọc trục huyện…;các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, Ngái Lạng với diện tích 850 ha, hiện là nguồn dự trữ nước cho trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ du lịch. Về đất đai Trên địa bàn huyện Mỹ Đức có 10 loại đất, gồm: đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi hàng năm, đất phù sa Glây, đất phù sa úng nước, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất đỏ vàng trên đá sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất than bùn, đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat.
Do các đặc điểm về địa thế, các tính chất hóa lý khác nhau nên khả năng khai thác chúng cũng khác nhau. Theo thống kê của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức, năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 23031,21 ha, bình quân 0,13ha/người. Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 58,23%; đất phi nông nghiệp chiếm 31,05%; đất chưa sử dụng chiếm 10,72%. Đất sản xuất nông nghiệp là 13411,26 ha, bình quân 0,075 ha/người.
Cơ cấu nhóm đất nông nghiệp: diện tích đất trồng cây hằng năm là 9202,67 ha, chiếm 39,96% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất chuyên trồng lúa là 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8344,05 ha, chiếm 36,23%; diện tích đất phát triển lâm nghiệp là 3526,16 ha và diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 674,33 ha. Nhìn chung, Mỹ Đức là huyện có tài nguyên đất nông nghiệp phong phú, là yếu tố quan trọng trong việc phát triển các vùng chuyên canh cây lương thực và các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Tài nguyên động thực vật: Mỹ Đức có dãy núi đá vôi ở phía tây, vì vậy, diện tích rừng tự nhiên hiện có 2317,12 ha, tập trung chủ yếu ở Hương Sơn. Đây cũng là nơi tập trung rất đa dạng và phong phú các loài động thực vật.
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn có 350 loài thực vật thuộc 92 họ, trong đó, có 92 loài hạt kín, 50 loài dương sỉ, còn lại là các họ hạt trần như thông đất, tháp bút…Đặc biệt, có nhiều loài quý hiếm, cây làm thuốc, cây đặc sản và cây phong cảnh như lành vanh, cây xưa, lát hoa, cỏ roi ngựa, cam thảo nam, kim ngân, mơ, rau sắng, củ mài… Động vật cũng có 88 loài chim thuộc 37 họ và 15 bộ, 35 loại bò sát thuộc 16 họ và 3 bộ, 32 loại thú thuộc 17 họ và 3 bộ…Hệ động vật nhìn chung nghèo về số loài và số lượng cá thể từng loài nhưng rất độc đáo với nhiều loài quý hiếm như gà lôi trắng, rái cá… Khoáng sản: Huyện Mỹ Đức tập trung 2 khoáng sản chính là than bùn và đá vôi: Than bùn phân bố rải rác ở 10 xã miền núi, tập trung lớn nhất ở xã Đồng Tâm, Thượng Lâm và vùng Hương Sơn. Tổng trữ lượng khoảng 100 triệu tấn nhưng hiện chưa được khai thác nhiều. Đá vôi phân bố thành dải kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn với chiều dài trên 40km, rộng 1 – 2km, cao trung bình 50 – 100m, trữ lượng ước tính khoảng 600 triệu m3. Đáng chú ý là, ở nhiều dãy núi có xen đá đỏ, đá 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xanh đen, đá đen granit.
Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho công nghiệp xây dựng, đặc biệt là xi măng. Tiềm năng du lịch: Mỹ Đức là huyện có nhiều di tích lịch sử - tôn giáo, danh thắng thiên nhiên đẹp. Đặc biệt là khu vực Hương Sơn vừa là khu danh thắng, vừa là khu bảo tồn thiên nhiên, đồng thời đây còn là một vùng văn hóa đặc sắc với các lễ hội và phong tục tập quán đặc trưng. Trong đó, lễ hội Chùa Hương là lễ hội dài nhất, kéo dài từ mùng 6 tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch.
Bên cạnh đó, khu vực Quan Sơn được ví như “Hạ Long cạn” có tổng diện tích gần 3000 ha. Ngoài ra, với cảnh quan sơn thủy hữu tình, Mỹ Đức còn có: Thung Cấm, Thung Ngái, Thung Phật, Hồ Tuy Lai…là những địa điểm đa dạng và sẽ phát triển dịch vụ du lịch nghỉ ngơi cuối tuần thuận lợi. Mỹ Đức còn có nhiều nghề thủ công truyền thống, điển hình là dệt, nhuộm, thêu, mây tre đan, mộc…Trên địa bàn huyện hiện nay có một số làng nghề điển hình như Phùng Xá, Thượng Lâm, Phúc Lâm, An Phú, Đại Nghĩa, Phù Lưu Tế. Nếu được khai thác hiệu quả, đây cũng sẽ là một sản phẩm du lịch đặc sắc, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng và độc đáo cho ngành du lịch của huyện.
* Điều kiện kinh tế - xã hội Dân cư: Theo số liệu của phòng Thống kê huyện Mỹ Đức, dân số toàn huyện năm 2005 là 173.478 người, trong đó nam chiếm 48,92% dân số, nữ chiếm 51,08% dân số, tỷ lệ phát triển dân số bình quân hàng năm là 0,98%. Dân số thị trấn có 6.835 người, vùng nông thôn có 166. Mật độ dân số trung bình 778 người/km2. Trong đó, dân cư tập trung đông hơn ở những xã thuộc khu vực đồng bằng phía Đông ven sông Đáy.
Nguồn lao động: 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mỹ Đức có nguồn lao động khá dồi dào. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Mỹ Đức duy trì ở mức 51,8% tổng số dân, trong đó lao động trong độ tuổi chiếm 91,5% lao động xã hội và phân bố chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp 79%, chỉ còn 21% lao động ở các ngành nghề khác. Với tỷ lệ lớn dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian lao động thực chỉ chiếm 70 – 75% tổng quỹ thời gian lao động, huyện Mỹ Đức cần phải có chiến lược phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ - du lịch hợp lý, nhằm vừa hạn chế các hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm, đảm bảo việc duy trì môi trường và cảnh quan du lịch; vừa giải quyết vấn đề thiếu việc làm cho nhân dân trong vùng. Hơn nữa, cần có chiến lược đầu tư cho giáo dục – đào tạo nghề nhằm hình thành lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu phát triển của Mỹ Đức trong tương lai.