phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Tổng quan về tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh Bắc Kạn 1.
Một số khái niệm công cụ của đề tài Chƣơng 2. Đặc trƣng kinh tế của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 3. Đặc trƣng xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn 1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Giả thuyết 1: Tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình được khảo sát thể hiện rất đa dạng qua các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộvì vậy việc thu thập và theo dõi các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo là một công cụ hiệu quả cho việc nhận diện, quản lý hộ nghèo và xoá đói giảm nghèo bền vững; Giả thuyết 2: Đa số hộ nghèo đã nhận thức được cách thức vươn lên, thoát khỏi tình trạng nghèo đói của mình tuy nhiên họ vẫn cần có những thiết chế, tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ về các loại nguồn vốn để khắc phục tình trạng nghèo đói, tiến tới vươn lên thoát nghèo bền vững.
Giả thuyết 3: Nghèo đói vẫn tiếp tục là thách thức lớn đối với Bắc Kạn trong thời gian tới và đặc biệt trầm trọng đối với nhóm dân tộc thiểu số. Để xoá đói giảm nghèo bền vững cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm giúp người nghèo phát huy nội lực, nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo, giảm thiểu nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐẶC TRƯNG KINH ĐẶC TRƯNG XÃ HỘI CỦA HỘ NGHÈO TẾ CỦA HỘ NGHÈO Trình độ học Đất đai, tài sản Tình trạng Quy mô và Khía cạnh giới, Thu nhập Thành phần vấn, chuyên và điều kiện HĐKT, việc kiểu loại gia tuổi, tình trạng dân tộc môn kỹ thuật sinh hoạt làm đình hôn nhân Chi tiêu TÌNH TRẠNG VÀ MỨC ĐỘ NGHÈO ĐÓI CỦA HỘ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Theo quan điểm Mác xít: “Loài người trước nhất cần phải có cái ăn, có chỗ trú ẩn, có cái mặc trước khi có thể đeo đuổi chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo.
Quan điểm của Karl Marx về nghèo đói thể hiện trong lý luận của ông về nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa xã hội. Theo Marx trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng theo nguyên tắc mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội) chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội, vì “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia.”, thành thử “muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền là phải không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng”. Đó vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót, theo C.Mác, là không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa [13, 35]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Marx và Engel đã chỉ ra một xã hội cộng sản chủ nghĩa (xã hội không có người nghèo, của cải tuôn ra nhiều như nước, mỗi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu): sự tự do phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự tự do phát triển của tất cả mọi người.
Karl Marx nhấn mạnh nguyên nhân của sự nghèo đói nằm trong cách thức tổ chức đời sống sản xuất của con người. Do sự phân công lao động, sự phân chia giai cấp, sự áp bức và bóc lột người nên trong xã hội có sự bất bình đẳng với một thiểu số người thống trị đa số người khác, trong đó có nhiều người rơi vào cảnh nghèo khổ. Quan niệm của ông đã mở ra hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của phương thức sản xuất, của sự phân công lao động và cấu trúc xã hội đối với sự nghèo khổ. Vấn đề đặt ra là phải biến đổi phương thức sản xuất và cấu trúc xã hội theo hướng tạo ra sự công bằng, bình đẳng và tự do cho mọi người [19, 233].
Tư tưởng Hồ Chí Minh Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho người lao động nghèo khổ, lực lượng cơ bản của cách mạng vừa thoát khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đói nghèo như là một thứ “giặc”, Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung lực lượng để chống lại ba thứ giặc là giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu với lý do: "Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì". Người đã nhấn mạnh đến bổn phận của Nhà nước phải chăm lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và việc học hành.
Người nói: "Chúng ta dành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Làm cho dân có ăn 2.
Làm cho dân có mặc 3. Làm cho dân có chỗ ở 4. Làm cho dân có học hành Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập, và giúp sức được cho tự do độc lập" [4, 152].
Người còn dạy rằng: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Người cũng chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu với mục tiêu: Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm.
Tư tưởng trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói giảm nghèo, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về xoá đói giảm nghèo Chủ trương của Đảng ta trong Nghị quyết Đại hội VI là “vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách căn bản”. Đây là một chủ trương cực kỳ quan trọng, có tính chất đột phá, liên quan đến an ninh lương thực và tấn công vào đói nghèo, nhất là đói nghèo “về lương thực thực phẩm” (đói nghèo tuyệt đối) khá phổ biến ở nước ta những năm đầu đổi mới. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép”.
Tư 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tưởng chỉ đạo trong xoá đói giảm nghèo thời kỳ này là “đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng”. Tức là tập trung vào giải quyết cơ bản “đói nghèo tuyệt đối”, đói nghèo về “lương thực thực phẩm”. Nhận thức về tầm quan trọng của sự nghiệp xoá đói giảm nghèo trong công cuộc đổi mới và về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng chí Lê Khả Phiêu, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, tại Hội nghị triển khai chương trình 133 và 135 ngày 6 - 7/1/1999 đã nhấn mạnh: "Vấn đề nghèo đói không được giải quyết thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình, ổn định, đảm bảo các quyền con người được thực hiện". Nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế – xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc.
Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong nước và nước ngoài, quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả”. Lần đầu tiên trong Nghị quyết đại hội Đảng đã đưa ra chỉ tiêu về xoá đói giảm nghèo đến năm 2000 và các năm tới: “Giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300 ngàn hộ/năm. Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xoá cơ bản hộ đói kinh niên”. Đến Đại hội IX, nhận thức của Đảng ta về xoá đói giảm nghèo được nâng lên tầm cao mới, đặt xoá đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 và nhấn mạnh làm tốt công tác xoá đói giảm nghèo sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, tích cực phát triển và bảo vệ môi trường, góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước, từng bước hội 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá.
Đảng ta luôn chủ trương “khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo”. Nhưng đến đại hội IX, nhận thức của Đảng ta về xoá đói giảm nghèo chuyển dần sang hướng xoá đói giảm nghèo bền vững và gắn với phát triển.