đặt vấn đề nghệ thuật trước nhu cầu tinh thần của con người…”[39; 177]. Thời kì sau năm 1986 trở lại đây là thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, sức mạnh số khiến việc truyền thông được nhanh hơn và thông tin cập nhật hàng giờ một cách nhanh chóng, vì vậy, phương thức sáng tác tiểu thuyết cũng yêu cầu trở nên ngắn gọn và cô đọng hơn. Quan sát sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta thấy có một xu hướng đã từng diễn ra đó là “tiểu thuyết hóa” thể loại này. Nếu trước đây, truyện ngắn hướng tới cái chốc lát, khoảnh khắc của đời sống thì nay nó làm nhiệm vụ đúc rút, tổng kết, tức là truyện ngắn mang dung lượng của tiểu thuyết.
Khi xã hội càng phát triển, các vấn đề nảy sinh càng phức tạp và đa dạng, trình độ cũng như nhu cầu thưởng thức của độc giả không ngừng được nâng cao, đòi hỏi truyện ngắn phải tạo cho mình được sức chứa lớn hơn so với đặc điểm vốn có của thể loại nhưng lại không được phá vỡ khuôn khổ, kéo dài văn bản, lấn sân sang tiểu thuyết. Sức chứa liên quan trực tiếp đến vấn đề cấu trúc tác phẩm, vì vậy, một số nhà văn hiện đại đã sáng tạo cho truyện ngắn của mình cấu trúc tự do , không bị cốt truyện quy định, không cần lối kết thúc có hậu và đến các chi tiết cũng được sử dụng mang tính tượng trưng hơn. Cấu trúc những truyện ngắn ấy thường mở, uyển chuyển, linh hoạt và nhờ vậy, nó chuyên chở một cách hiệu quả những tư tưởng nhân văn mới mẻ về cuộc sống, con người. Quan sát sự vận động của thể loại truyện ngắn từ những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay, chúng ta thấy rằng đội ngũ các tác giả trẻ đang dần dần khẳng định vai trò, thương hiệu của mình.
Họ cũng rất yếu thức về yếu tố thời đại nhưng ý thức thời đại của họ khác hẳn các thế hệ trước đây. Điều đó có nghĩa là có nghĩa là họ nhập cuộc tỉnh táo hơn, họ dùng cái tôi như một thứ lăng kính và quan niệm văn chương luôn phải có độ lùi.Điều đặc biệt, các nhà văn trẻ hiện nay ít hứng thú với các đề tài chiến tranh, nông thôn,đời sống đô thị, công nghiệp , công nghệ thông tin….Họ hứng thú với các mảng đề tài khai thác cái “ẩn ức” của tuổi trẻ, quan tâm đến “cái tôi” của mình, hay chuyện tình yêu tây ba, tay tư nhiều hơn là những đề tài lớn, mang giá trị nhân văn…Sự xuất hiện của hàng loạt các tác phẩm như: Song song của của Vũ Đình Giang, Không lạc loài của 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thành Trung, Bóng của Nguyễn Văn Dũng, Nháp của Nguyễn Đình Tú, Đi tìm hình cuộc sống của Hà Thanh Phúc, Phải lấy người như anh, Nhật ký tình yêu của Trần Thu Trang, Khi nào anh thuộc về em của Cấn Vân Khánh….đã chứng tỏ cho nhận định này. Sự đổi mới, phong phú về nghệ thuật biểu hiện “Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con người. Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống nên truyện ngắn có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người một cách chính xác, nhạy bén.
Cũng chính điều này khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người…” [9] Đọc các truyện ngắn hiện đại, chúng ta thấy khả năng mới trong việc thể hiện con người. Điều này thể hiện trong việc truyện ngắn ngày càng ít trực tiếp miêu tả những sự kiện, vấn đề lớn liên quan đến sự nghiệp chiến đấu và công cuộc sản xuất của dân tộc mà lại thiên về miêu tả những chuyện đời thường, xoay quanh số phận của những con người cụ thể. Điều đó đã thể hiện quan niệm nghệ thuật mới của những người cầm bút trong việc khai thác nhân vật của mình, nhìn nhận con người bằng quan niệm biện chứng trong sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, ở đó mọi diễn biến tâm lý, tình cảm đều được bộc lộ trong từng hoàn cảnh điển hình. Văn xuôi luôn có lợi thế trong việc phát hiện ra bản chất con người hiện đại, và lợi thế ấy đặc biệt thể hiện rõ nhất trong truyện ngắn.
Có thể nói, nhân vật trong những truyện ngắn hiện đại là những con người dũng cảm, dám nhìn thẳng vào bản chất của mình cả ở điểm mạnh lẫn điểm yếu, đây chính là điểm thu hút độc gỉa trên hành trình khám phá sự mới mẻ về con người hiện đại. Sự day dứt của số phận con người khi nhận ra sự vô tâm đến tàn nhẫn của mình (Bức Tranh – Nguyễn Minh Châu); hay là lời tự thú của người lính khi bất đắc dĩ rời bỏ đội ngũ nhưng vẫn sống có ích (Đêm nguyệt thực – Trung Trung Đỉnh) là ví dụ điển hình. Nhà văn Amatôp quan niệm: mỗi truyện ngắn chỉ là giọt nước thôi nhưng thiếu nó thì không thể có biển cả. Đời sống xã hội hiện đại càng dữ dội, con người càng bị cuốn sâu vào vòng xoáy kinh tế thị trường thì con người càng cần có những khoảng thời gian để nhìn nhận lại chính mình từ bên trong, nhận thức được chính mình.
Bởi vậy, phần lớn các cảnh ngộ éo le, các hoàn cảnh điển hình, các nhân vật trong truyện ngắn hiện đại đều mang đến một thông điệp: Hãy chú 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ý quan tâm chia sẻ và thông hiểu những người ở quanh ta. Bởi sự thông cảm là sợi dây nối liền con người, là cửa ngõ để đi vào những tâm hồn đồng điệu… Và, chỉ có như vậy, con người mới hiểu được chính mình, mới giải quyết được những mâu thuẫn trong chính nội tại bản thân mỗi người. Đồng thời cũng lí giải được xã hội và đặt mình hài hòa trong các mối quan hệ. Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp.
Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ góc nhìn riên, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Và tất yếu là truyện ngắn Việt Nam đương đại gặt hái không ít thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật. Có thể nói, thu hẹp khoảng cách giữa truyện và “chuyện” là điều khiến ngôn ngữ trần thuật ở truyện ngắn đương đại gần gũi với đời sống hơn bao giờ hết. Ngôn ngữ trong truyện ngắn không còn là những lời nói quyền uy, cao đạo.
Thay vào đó là ngôn ngữ thường ngày dễ hiểu, đó có thể là khẩu ngữ trong những truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, là ngôn ngữ vỉa hè trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài, là lời trần thuật dân dã trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh( đi năm lần bảy lượt, mời mẻ bát gãy đũa), Nguyễn Khải (cười thắt ruột, ăn nói quá quân trộm cướp), Bão Vũ (nằm co tiểu sành khi hết phim,…), là những tiếng lóng, những câu chửi thề, những từ ngữ tục, là ngôn ngữ trần trụi,không gọt dũa của thứ ngôn ngữ “chợ búa” ở Người hùng trường làng (Tạ Nguyên Thọ), Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp),…. Việc vận dụng thích hợp mảng ngôn từ ít có giá trị thẩm mỹ tự thân này một cách thích hợp cũng đem lại hiệu quả nhất định cho việc trần thuật. nếu như trước đây, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn chau chuốt, kĩ lưỡng và không tồn tại những cách nói khiến độc giả khó hình dung trật tự trên dướii trong giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại , kiểu nói “xấc xược, thiếu văn hóa” của lớp trẻ không còn xa lạ nữa. Việc không ngại đưa những ngôn ngữ này vào văn học của nhiều cây bút với dụng ý phản ánh mảng xã hội bộn bề, mọi chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn đã trở nên quen thuộc với độc giả.
Ví như cách sử dụng ngôn ngữ trần thuật kiểu: Bà mõm. Về ngay! (Bà ốm. Về ngay!) trong truyện ngắn Làng xi măng của Lê Minh Khuê. Hay cách nói năng xấc xược với đấng sinh thành : “Bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “ làng Vũ Đại” trong Gió đồng se sắt của Đỗ Tiến Thụy 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời hiện đại, công nghệ thông tin bùng nổ đã tác động đến ngôn ngữ đời sống và để lại dấu ấn rõ rệt trong ngôn ngữ trần thuật.
Từ ngữ chuyên môn trở nên phổ biến ( các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh mới: HIV-AIDS, viêm não Nhật Bản, Cúm gia cầm,…; Các khái niệm kinh tế tiền tệ: Thị trường chứng khoán, cổ phiếu, bất động sản,.các ngôn từ đặc trưng thời kỹ thuật số: chát, thư điện tử,…). Ngoài ra, những từ ngữ vốn mới xuất hiện gần đây cũng ùa vào trong các tác phẩm: Cave (gái làm tiền), ô-sin (người giúp việc), gay (người đồng tính) ….những ngôn ngữ mới này được sử dụng như những phương tiện biểu đạt mới. Chịu tác động mạnh mẽ của ngôn ngữ đời sống, kéo theo ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn hiện đại bộc lộ khá rõ đặc trưng văn hóa vùng miền. Những từ địa phương này được đưa vào tác phẩm một cách có chủ ý chứ không thuần túy do chất giọng “bản địa” của nhà văn.
Vì thế, hiệu ứng của các tác phẩm không chỉ dừng lại trong việc truyền tải nội dung truyện kể mà còn đem đến cho độc giả hình dung về những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ. Là vẻ đẹp bình dị của sông nước Cửu Long qua bờ kênh, con rạch, những cù lao xanh ….trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. Là chất Huế yên bình mà đượm buồn, trầm mặc trong tác phẩm của Trần Thùy Mai. Là chất thâm thúy kiểm miền Bắc hay chất hồn hậu miền Nam đều bộc lộ rõ nét trong từng lời đối đáp, trong các ngôn từ nhân xưng hay trong lời kể của người trần thuật, ta có thể tìm thấy trong các tác phẩm: Quê hương - Cao Hạnh, Bà Thỏn - Trần Thanh Hà,… Ngôn ngữ trần thuật cũng làm tái hiện lại phong tục tập quán vùng miền, tạo nên một dòng văn học vùng miền là mảng truyện ngắn Nam Bộ.