Chương 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG Sáng tạo văn chương là một hoạt động tinh thần, nhận thức nên bao giờ cũng có tính quan niệm. Coi việc phản ánh và thể hiện con người là nhiệm vụ trung tâm, tất yếu văn học không thể không có quan niệm về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện đại. Trần Đình Sử trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học đã định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật đó” [72; tr.
Như vậy, các nhà thi pháp học quan tâm đến việc cảm thụ, cắt nghĩa không phải con người trong thực tế mà là con người trong văn học. Con người trong văn học thực chất là quan niệm về con người được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong hệ thống các hình ảnh tượng trưng, các nguyên tắc miêu tả tâm lý, tính cách…Do đó, việc tìm hiểu quan niệm của nhà văn về con người sẽ giúp ta khám phá, phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng có thật. Chính quan niệm nghệ thuật về con người sẽ chi phối thế giới nghệ thuật của nhà văn, tạo nên hạt nhân phong cách của mỗi tác giả, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Có thể nói, để hiểu một tác phẩm, một tác giả, một trào lưu, một giai đoạn văn học, không thể không xem xét đến quan niệm nghệ thuật về con người.
Bởi xét cho cùng, con người bao giờ cũng là cái đích khám phá của nghệ thuật. Hiểu được các nguyên tắc cắt nghĩa, cảm nhận con người sẽ hiểu được vai trò sáng tạo của nhà văn trong việc thâm nhập và chiếm lĩnh đời sống. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hơn nữa, với thi pháp học thì nhân vật là sự biểu hiện tập trung nhất quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Các nhà thi pháp học cho rằng: “Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện một cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà anh ta lựa chọn.
Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả” [72; tr. Do đó, muốn khám phá sự cảm nhận về con người tới mức độ nào thì cần phải khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu tả nhân vật: “Phân tích thi pháp là khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật chứ không phải chỉ ra những nội dung phong phú được thể hiện trong nhân vật” [72; tr. Vì thế, chúng tôi thiết nghĩ công việc đầu tiên phải làm khi tiến hành triển khai đề tài này là tìm hiểu, lí giải quan niệm nghệ thuật về con người qua các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. Nguyễn Quang Sáng là một cây bút có những đóng góp đáng kể cho văn học Việt Nam hiện đại.
Đóng góp ấy trước tiên ở khía cạnh quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Trong truyện ngắn của mình, ông đã tạo ra một thế giới nhân vật có đặc điểm rất riêng 1. Con người giản dị mà phi thường trong cuộc sống chiến đấu Nguyễn Quang Sáng kể, ông “bắt đầu cầm bút từ 1952 hồi ở U Minh đánh Pháp”. Gia nhập quân đội từ khi mới 14, 22 tuổi tập kết ra Bắc và xuất bản những truyện ngắn đầu tiên, 32 tuổi trở lại miền Nam và bắt đầu giai đoạn “chín muồi” của ngòi bút.
Gắn bó, lăn lộn với cuộc chiến đấu của dân tộc, Nguyễn Quang Sáng thuộc thế hệ nhà văn cầm bút để trả nợ nghĩa ân của cách mạng và nhân dân đã nuôi lớn ngòi bút và tâm hồn mình. Vì lẽ ấy, hình ảnh con người Việt Nam trong chiến đấu ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được chuyển tải bằng dư vị đặc biệt - giản dị, tự nhiên nhưng đầy xúc động. Ngay từ năm 1975, Vân Thanh đã nhận ra đặc điểm nổi bật này khi nhận 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét: “Truyện Nguyễn Sáng chứa đựng những yếu tố kỳ diệu như thế. Nói kỳ diệu là nói những chuyện lạ, Nhưng với Nguyễn Sáng, đó là những chuyện lạ đã trở thành bình thường, những chuyện lạ không phải do phép tiên mà có, nó được làm nên bởi những con người bình thường” [75; tr.
Quả thật, Nguyễn Quang Sáng không xoáy ngòi bút vào việc mô tả dáng vẻ phi thường của những anh hùng trong chiến đấu mà lại quan tâm đặc biệt cách người ta sống ra sao giữa bom đạn tàn khốc để vẫn là một- con- người- bình- thường như bao người bình thường khác: một cô giao liên đeo mãi bông cẩm thạch cũ kĩ vì đó là kỉ vật tình yêu của người cha đã mất và người mẹ của cô (Bông cẩm thạch), một cậu lính nhỏ ngày đêm lo lắng làm sao để con gà được cất tiếng gáy giữa chiến trường mà không bị trừng phạt (Con gà trống), một anh nông dân vui mừng vì được hút thuốc nhờ đạn hoả tiễn của giặc đúng lúc quên mang theo hộp quẹt (Một chuyện vui), một người chiến sĩ khi gặp con gái chỉ mong được nghe tiếng gọi “ba” từ con bé (Chiếc lược ngà)… Đạn bom của chiến tranh càng đẩy con người vào cảnh ngộ bất bình thường thì nhân vật của Nguyễn Quang Sáng càng nổi bật lên bản chất giản dị, hồn nhiên. Dung trong truyện Chị xã đội trưởng là trường hợp như thế. Trong vai trò xã đội trưởng, Dung đối mặt hàng ngày với cuộc chiến khốc liệt: “chẳng những chỉ huy du kích, nhận càn, bắn máy bay, chị còn lãnh đạo cả việc đi cấy, đi gặt, đi đấu tranh chính trị” [55; tr. Súng lục, trực thăng, bom napan… bất cứ lúc nào cũng có thể lấy đi tính mạng hay đốt cháy từng phần cơ thể của người con gái xinh đẹp ấy nhưng không sao “cướp” được ở chị những rung cảm đời thường.
Vừa bước ra khỏi cuộc họp, Dung đã ngay lập tức quên đi không khí căng thẳng của trận công đồn chuẩn bị diễn ra để ngẩn ngơ trước màu đỏ của hoa ô môi: “Trong ánh sáng chói chang, hoa ô môi đỏ rực như những lá cờ lớn trải trên tàn cây, nối tiếp nhau từ đầu làng đến cuối làng. Làng bỗng rực rỡ, sáng đẹp lạ lùng… Còn Dung, Dung cứ đứng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lặng nhìn về phía làng với vẻ mặt đầy xúc động” [55; tr. Từ khoảnh khắc đậm chất thơ ấy, hình ảnh chị xã đội trưởng hiện lên thật dịu dàng, trong trẻo và vô cùng gần gũi. Và giữa bom đạn ngút trời, giữa những trận càn liên tiếp, chị vẫn yêu- một tình yêu cũng rắc rối, hồn nhiên và tinh nghịch như bao cô gái khác.
“Cách đây ba tháng”, nghe tin trong làng có một cô gái bị cháy cả mặt và hai tay vì bom napan, Khương (người yêu Dung) lo lắng viết thư về hỏi. Hơn một tháng sau, anh nhận được thư Dung với tuồng chữ khác lạ. Dung bảo người cháy mặt, cháy tay chính là Dung và chị khẩn thiết khuyên anh hãy quên chị đi. Lá thư khiến Khương vừa đau khổ, vừa buồn, vừa thương, vừa giận và càng thấy yêu thương Dung hơn.
Giữa lúc khổ tâm nhất, Khương lại nhận được lá thư thứ hai nói “em không bị cháy gì hết, vẫn y nguyên” nhưng lại “chua” thêm dòng tái bút: “chừng anh về, biết đâu em là người bị cháy thật” [55; tr. Thế đấy, hoá ra Dung đã biến sự tàn bạo của chiến tranh thành cái cớ để thử thách lòng chung thuỷ của người yêu, để được sống với cảm xúc thăng trầm, hồi hộp, ngượng ngùng của tình yêu như muôn đời nay các cô gái vẫn vậy: “Tôi không dám luận bàn về tình yêu, nhưng tôi nghĩ, điều mà chị xã đội bày ra cho thêm rắc rối đó là cái chất trẻ đẹp của tình yêu mà bom đạn của giặc Mỹ không thể nào giết chết được. Đứng trong cuộc sống chiến đấu đầy bom đạn, chẳng biết lúc nào mình bị hy sinh, bị tàn tật, nhưng điều đó không ám ảnh được chị. Chị vẫn sống một cách bình thường, vẫn yêu, yêu một cách rắc rối, hồn nhiên như vậy đó” [55; tr.
Còn anh Tư già (Dân chơi) dù mặc nhiên thừa nhận “chiến tranh thì đâu có gì bình thường” [19; tr.24] nhưng lại coi cuộc chiến khốc liệt thành một cuộc chơi lớn. Mặc cho trực thăng quần đảo hàng ngày trên đầu, B52 “ba đợt dội ngay đội hình”, và “mỗi lần thay đổi cù lao là phải vượt sông dưới tầm súng của tàu tuần” [54; tr.26], anh Tư già vẫn bình thản, nhàn nhã như đang sống giữa thời bình. Câu chuyện viết về chiến tranh mà chẳng khác gì đang kể 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về những chuyến đi dã ngoại kì thú và nhân vật chính như đang du ngoạn khám phá sự giàu đẹp của mảnh đất phương Nam. Cũng như nhân vật “tôi”, người đọc vừa ngỡ ngàng vừa thích thú trước những thú chơi của anh Tư già giữa chiến trường.
Thứ nhất là thú ăn: “trong cái bồng mang trên lưng anh không chỉ có quần áo mà như có cả một cái bếp lưu động. Cái bếp có đủ gia vị: hành khô, ớt khô, tiêu tỏi muối đường, bột ngọt và cả nước mắm khô…, có cả một con dao thái thịt bằng hai ngón tay, lại còn có một hộp lưỡi câu. Hôm nào đến trạm sớm chưa đúng bữa ăn thì anh chặt một nhánh cây rừng, chuốt thành cần câu, anh đi ra suối… muộn nhứt là một tiếng, anh thường trở về với một xâu cá rô mè. Một bữa cơm chiến trường thật ngon lành” [54; tr.
Thứ nhì là thú nhậu- thú chơi rất quen thuộc của người Nam bộ mà mồi nhậu được anh Tư “nâng lên” thành hàng độc đáo. Có khi là miếng chuối chiên bột- “cái mà ở rừng không thể có” [54; tr. Có khi là món nhái nướng “ngon mà ngọt mà thơm lạ”- thứ như được anh bắt bằng bùa chú: “trong tay một cái túi may bằng áo mưa màu xanh đã cũ nát, bước ra đám cỏ dưới cơn mưa lất phất, rồi anh giả giọng nhái, anh giả giọng thế nào mà nhái từ đâu trong đám cỏ, như thót bụng vọt qua ngọn cỏ tới anh, anh đưa tay chớp gọn, nhét vào bọc nilon, rồi lại giả giọng và nhái lại bươn bả nhảy tới chân anh” [54; tr.