mở đầu bằng mùn bã hữu cơ hay phế liệu, còn sinh vật tiêu thụ bậc một là những loài động vật ăn phế liệu. Tiếp theo là các nhóm ăn thịt các cấp nhƣ các loài động vật không xƣơng sống ăn thịt cỡ lớn, động vật có xƣơng sống có kích thƣớc khác nhau, chủ yếu là cá. Mùn bã hữu cơ giàu có đóng vai trò quan trọng trong chu trình vật chất của hệ sinh thái cửa sông. Cửa sông nhƣ một cái bẫy, bẫy vào đây nguồn thức ăn mùn bã phong phú với năng suất và sản lƣợng cao, nhất là trong rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các bãi bùn triều kế cận, kéo theo là sự phát triển của động vật ăn mùn bã cũng nhƣ các loài ăn thịt chúng đi kèm (Vũ Trung Tạng và nnk, 1981, 1985; Vũ Trung Tạng, 1994; Day và cộng sự, 1989;Whitfield, 1996) [23, 25].
+ Xích thức ăn thẩm thấu: đƣợc khởi đầu bằng các chất hữu cơ hòa tan trong nƣớc. Những chất này đƣợc sinh ra bằng nhiều con đƣờng (tự phân hủy của xác sinh vật, sự phân giải chất hữu cơ bởi vi sinh vật). Sinh vật tiêu thụ chất hữu cơ hòa tan chính là vi khuẩn và động vật nguyên sinh, chúng sử dụng chất hữu cơ bằng con đƣờng thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Về phía mình chúng lại là thức ăn cho microzooplankton và ấu trùng cá.
Những loài này lại làm thức ăn cho cá nổi, cá có kích thƣớc lớn. Nhƣ vậy ba xích thức ăn trên trong vùng cửa sông hoạt động đồng thời, mặc dù xích thức ăn khởi đầu bằng thực vật và tảo giữ vị trí khởi nguồn cho 2 xích thức ăn còn lại, song do đặc thù vùng cửa sông, xích thức ăn phế liệu đóng vai trò then chốt và quan trọng nhất trong sự chuyển tải vật chất và năng lƣợng của các hệ cửa sông, tƣơng tự nhƣ các xích thức ăn trên cạn. Sự hoạt động của các xích thức ăn trên không chỉ tạo nên hiệu suất cao mà còn đảm bảo cho rừng ngập mặn duy trì nguồn muối dinh dƣỡng lâu dài ngay trong chính bản thân của hệ. Vì vậy rừng ngập mặn đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc duy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trì nguồn muối dinh dƣỡng cho sự phát triển của các loài sinh vật sống trong vùng cửa sông và đới ven bờ.
Sự phong phú về thức ăn trong rừng ngập mặn nói riêng hay vùng cửa sông nói chung làm cho nhiều loài động vật biển cũng xâm nhập vào để kiếm ăn, kéo theo đó là nhiều loài động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều. Chúng thƣờng xuất hiện đông đúc khi nƣớc ròng và phơi bãi. Chính điều này đã tạo nên tính đa dạng về thành phần loài, nhất là sự đa dạng về di truyền, tạo cho sinh vật sống ổn định trong môi trƣờng thƣờng xuyên biến động của vùng cửa sông đồng thời, giúp cho chúng tham gia vào các bậc dinh dƣỡng khác nhau của hệ thống các xích thức ăn, nhằm khai thác tối đa nguồn năng lƣợng và vật chất dƣới dạng sản phẩm sơ cấp đƣợc các sinh vật sản xuất tạo ra trong quá trình quang hợp [23, 25]. Vai trò của hệ sinh thái cửa sông Vùng cửa sông là một đơn vị chuyển tiếp đƣợc hình thành từ kết quả của quá trình tƣơng tác sông – biển, song giữ vai trò rất quan trọng đối với đời sống tự nhiên, trực tiếp hay gián tiếp chi phối đến các khu hệ sinh vật biển và nƣớc ngọt.
Nói một cách khác, nhiều loài sinh vật, nhất là sinh vật biển sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào điều kiện môi trƣờng cửa sông. Cửa sông là nơi hội tụ của các dòng vật chất bao gồm cả các chất dinh dƣỡng giàu có với nguồn gốc rất khác nhau, từ lục địa đƣợc các dòng sông mang ra hay từ biển do các dòng triều và hải lƣu ven bờ đem đến hoặc đƣợc hình thành tại chỗ nhờ sự phát triển phong phú của rừng ngập mặn và các thảm cỏ biển dƣới triều. Đó là cơ sở để tạo nên nguồn thức ăn thực vật và tảo, mùn bã (detrutus) và các chất hữu cơ hòa tan (DOM), nuôi sống các loài động vật “ăn cỏ” (herbivore), ăn mùn bã (detritivore), các loài sử dụng DOM bằng con đƣờng thẩm thấu, các loài ăn thịt (predator) và các loài ăn tạp khác (omnivore). Mặc dù điều kiện môi trƣờng rất biến động, nhƣng nhờ nguồn thức ăn đa dạng và phong phú ít nơi có đƣợc, vùng cửa sông không chỉ là “vƣờn ƣơm” ấu thể của các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loài động vật biển mà còn trở thành nơi nƣơng tựa, lẩn trốn kẻ thù, nơi tìm kiếm thức ăn và bãi đẻ của nhiều loài, là cửa ngõ của các loài di cƣ sông – biển hay biển – sông.
Các nghiên cứu của A. Pauly (1987) chỉ ra rằng khoảng 50% ngƣ giới sống phụ thuộc vào vùng cửa sông nhiệt đới và không ít hơn 10-15% nhƣ thế phụ thuộc các cửa sông cận nhiệt đới. Mối quan hệ phụ thuộc này tủy thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử đời sống [23, 25]. Vai trò của một số yếu tố sinh thái chính ở cửa sông Ở cửa sông có rất nhiều các yếu tố ảnh hƣởng đến đa dạng sinh học cá nhƣ: đặc tính cơ học (áp lực nƣớc, độ nhớt, ánh sáng, nhiệt độ,…), đặc tính thủy học (chuyển động của khối nƣớc trong thủy vực), đặc tính thủy hóa học (chất hòa tan, chất vẩn, pH) của khối nƣớc, đặc tính nền đáy, các yếu tố hữu sinh.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn, các yếu tố thủy lý hóa chính bao gồm: nhiệt độ, muối, pH, độ trong, chất hòa tan, ánh sáng. Các yếu tố thủy lý 1. Nhiệt độ của nước Nhiệt độ của nƣớc thay đổi theo mùa, có ảnh hƣởng lớn và mang tính chất quyết định đối với đời sống của thủy sinh vật. Trong đời sống cá thể, nhiệt độ ảnh hƣởng đến tốc độ trao đổi chất do ảnh hƣởng đến hoạt động của các enzim theo định luật VanHoff.
Nhiệt độ nƣớc trong vùng cửa sông và nƣớc biển hòa trộn với nhau. Trong mùa hè, nhiệt độ nƣớc thƣờng cao (27 – 300C), giảm theo quy luật từ bờ ra khơi, từ mặt xuống đáy và từ nơi nƣớc nông đến nƣớc sâu. Ngƣợc lại trong mùa đông, nhiệt độ nƣớc lại tăng theo các hƣớng đó. Song sự chênh lệch giữa tầng mặt và tầng đáy ở những nơi có nƣớc nông (0 đến 15 – 20m) không lớn, trong khoảng từ 0,5 – 2,00C.
Sự chênh lệch nhiệt độ nƣớc tầng mặt giữa ngày và đêm cũng khoảng 2 – 30C (Vũ Trung Tạng và nnk, 1985) [23, 24]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Độ muối Độ mặn hay độ muối đƣợc kí hiệu S‰ (S – salinity – độ mặn) là tổng lƣợng (tính theo gram) các chất hòa tan chứa trong 1kg nƣớc. Đối với các loài thủy sinh vật, độ muối là một nhân tố sinh thái quan trọng vì nó ảnh hƣởng lớn tới các yếu tố khác nhƣ: pH, nhiệt độ, hàm lƣợng oxy hòa tan, các nguồn thức ăn,… đồng thời có vai trò xác định giới hạn phân bố của loài.
Sự thay đổi của độ muối làm thay đổi áp suốt thẩm thấu chung và tỉ số giữa các ion hóa trị 1 (Na+, K+) và hóa trị 2 (Ca2+, Mg2+). Tỷ số này đƣợc gọi là hệ số Lob, có vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lý của thủy sinh vật và sự thay đổi của nó phụ thuộc vào cơ thể sinh vật khi chúng sống trong những điều kiện độ muối xác định[23, 24]. Độ trong Độ trong của nƣớc rất quan trọng với sinh vật nƣớc vì nó làm giảm khả năng xuyên sâu của ánh sáng bề mặt và qua đó, nó ảnh hƣởng tới giới hạn quang hợp, tầm nhìn của các động vật sống trong nƣớc. Khi quang hợp bị giới hạn thì sự sống của hệ thực vật cũng bị giới hạn theo làm cho các sinh vật tiêu thụ ở các bậc khác nhau, trong đó có cá cũng bị suy giảm.
Độ trong của nƣớc phụ thuộc vào các phần lơ lửng khác nhau trong thủy vực [25]. Ánh sáng và sự chiếu sáng trong nước Ánh sáng là nhân tố rất quan trọng, vừa giới hạn, vừa điều chỉnh sự tồn tại và phát triển của các loại sinh vật. Ánh sáng tác động lên đời sống sinh vật qua các dấu hiệu: đặc tính của ánh sáng (độ dài bƣớc sóng hay màu sắc của tia đơn sắc), năng lƣợng (cƣờng độ) tác động, thời gian tác động (hay độ dài ngày) [25]. Ánh sáng chiếu xuống nƣớc bị hấp thụ ngay ở lớp nƣớc mặt dày 1m; tại đây ánh sáng bị hấp thụ tới 50% và phản xạ trở lại bầu trời.
Càng xuống sâu, cƣờng độ chiếu sáng, thành phần ánh sáng và thời gian chiếu sáng càng giảm. Độ trong càng lớn thì 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bức xạ bề mặt xâm nhập càng sâu. Ánh sáng tán xạ trong nƣớc là phần năng lƣợng bổ sung cho quá trình quang hợp và các hoạt động cần ánh sáng khác của thủy sinh vật. Độ dẫn Độ dẫn điện của nƣớc liên quan đến sự có mặt của các ion trong nƣớc.
Ion này thƣờng là muối của kim loại nhƣ NaCl, KCl, và các ion SO42-, NO3-, PO43-,… Tác động ô nhiễm của nƣớc có độ dẫn điện cao thƣờng liên quan đến tính độc hại của các ion hòa tan trong nƣớc. Các yếu tố thủy hóa 1. pH Độ pH của nƣớc phụ thuộc vào mức độ của nƣớc hòa trộn của nƣớc sông với giá trị thƣờng nhỏ hơn 7,4 và nƣớc biển thƣờng cao hơn, 8,1 – 8,4 (Constantinov, 1984). Hoạt động sống của thủy sinh vật nhƣ quang hợp, hô hấp làm thay đổi độ pH của nƣớc trong thủy vực.
Ngƣợc lại, pH của nƣớc ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phân bố và hoạt động sống của thủy sinh vật. Độ pH thay đổi sẽ làm thay đổi cân bằng các hệ thống hóa học trong nƣớc, qua đó gián tiếp ảnh hƣởng đến đời sống của thủy sinh vật. Ví dụ: pH axit làm muối Fe hòa tan nhiều trong nƣớc, gây độc cho thủy sinh vật. Riêng đối với cá thì mang là cơ quan đầu tiên dễ chịu tác động của axit.
Khi cá sống trong môi trƣờng axit thấp, lƣợng chất nhầy trên bề mặt mang cá tăng. Từ đó gây trở ngại cho sự trao đổi các khí hô hấp và ion qua mang. Vì vậy, sự phá vỡ cân bằng axit trong máu cá dẫn đến hô hấp không bình thƣờng làm giảm lƣợng muối trong máu, qúa trình thấm lọc không bình thƣờng. Đây là triệu chứng khá phổ biến khi cá bị sốc axit.