CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. Kháng thé IgY [5] Dựa theo chức năng hoạt dong, hệ thống miễn dịch ở gà được phân chia thành hệ thống miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu. Trong đó hệ thông đáp ứng miễn dịch dịch thể (thuộc hệ thống miễn dịch đặc hiệu) của gà gồm 3 lớp kháng thể IgM, IgA và IgY. Hai lớp kháng thé IgM va IgA ở ga tương tự như ở động vật có vú về trọng lượng phân tử, đặc điểm hình thái học và tính linh động (Diana Pauly, 2011).
So với IgM va IgA của gà, kháng thé IgY gà có trọng lượng phan tử thấp hon, chiếm đến 75% tong số lượng kháng thé (E. IgY trong huyết thanh được truyền vào noãn hoản trưởng thành trong nang trứng thông qua màng noãn (oolemma). Vì vậy kháng thể này có tên gọi là “kháng thể lòng đỏ trứng”: Yolk Immunoglobulin — IgY). Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra răng, lượng kháng thể IgY được chuyển vào lòng đỏ tỉ lệ thuận với lượng kháng thé trong huyết thanh của gà mẹ.
Ngoài ra, thời gian kháng thé IgY đặc hiệu được tìm thay trong trứng gà mới đẻ, trễ từ 5-6 ngày so với nồng độ kháng thé trong huyết thanh (E. Hiện nay, khuynh hướng sử dụng trứng gà làm nguồn sản xuất kháng thể ứng dụng trong chuẩn đoán và điều trị bệnh ở người và vật nuôi rất được quan tâm. So với phương pháp sản xuất kháng thể truyền thống, thì thu thập trứng và tách chiết kháng thể từ lòng đỏ được xem là một phương pháp sản xuất mang lại hiệu suất cao, giảm sự xâm lấn, cũng như đau đớn đối với động vật dùng làm thí nghiệm. Thông thường một con gà có thé đẻ 200 - 280 trứng mỗi năm va một lòng đỏ trứng chứa hơn 100mg kháng thể IgY (Carlander D, 2002).
Về cấu trúc, kháng thé IgY gần giống với kháng thé IgG ở người, bao gôm 2 chuỗi nặng (Hv) với trọng lượng phân tử từ 67-70 kDa và hai chuỗi nhẹ với trọng lượng phân tử 25kDa/chuỗi liên kết với nhau bang các cầu nối disulfide. Kháng thé IgY có trọng lượng phân tử xấp xỉ 180kDa, lớn hơn so với trọng lượng 150kDa của kháng thé IgG. Điểm khác biệt chủ yếu của IgY va IgG là số lượng vùng hang định (constant region) C trên chuỗi nặng, IgG có 3 vùng C (Cul, CH2 và CH3), IgY có 4 vùng C (CHI, CH2, C3 và Ca4). Trong cau trúc ở chuỗi nặng của kháng thé IgG, hai vùng Culva C2 được phân biệt bởi vùng bản lề, do đó làm tăng tính linh hoạt đoạn Fab trong cầu trúc phân tử của kháng thê.
Ngược lại, chuỗi nặng của IgY không chứa vùng bản lẻ, nhưng các vùng gan với ranh giới của CHI- CH2 và CH2-CH3 có chứa các nhóm proline và glycine. Các vùng này góp phân làm giảm tính linh hoạt của cấu trúc phân tử. Cấu trúc bên ngoài chuỗi nhẹ trong kháng thé IgY tương tự như ở IgG, bao gồm một vùng biến đổi (VL) và một vùng hang định (CL). Tuy nhiên, cầu nối disulfide giữa VL và vùng CL hiện diện trong kháng thé IgG lại không có trong cau trúc của kháng thé IgY.
Điều nay làm cho lực nội phân tử (intra-molecular force) của kháng thể IgY yếu hơn so với IgG (Hình 1. Sự khác nhau trong cau trúc phân tử dẫn đến sự khác nhau trong cách liên kết va tương tác hoá sinh học của kháng thé IgY so với kháng thé IgG. Kháng thể IgY không hoạt hoá các nhân tố bố thé, không bám với vùng thụ thé Fe ở động vật có vu, cũng như các nhân tố RF (rheumatoid factors), HAMA (human anti-murine antibodies). Các ưu điểm này giúp mở ra một phương hướng mới trong việc sử dụng IgY vào các lĩnh vực nghiên cứu, chan đoán va ứng dụng y học.
Cấu tr cc a kháng thé IgY va IgG Bang 1. So sánh t nh chất kháng thé IgG ở déngv tc v valgY ở gà Động vật có vú Gà (IgY) (IgG) Nguôn thu nhận Huyét tương Lòng đỏ trứng Loại kháng thể Đa dòng Đa dòng Phương pháp thu nhận Lây máu (mang | Thu thập trứng tính xâm lan) Lượng thu nhận 200 mg/40 ml 50-100 mg/1 mau trứng Kháng thê đích ~ 5% 2—10% Khôi lượng phân tử 150 kDa 180 kDa Tuong tac protein A/G Có Không Tương tác với yeu tô Có Không rheumatoid Kích hoạt bô thê Có Không Liên kết với thụ thê Fc Có Không Điểm đăng điện của kháng thể IgY dao động từ 5.5, hoạt tính IgY giảm và gân như hoàn toàn mất hoạt tính sinh học ở pH 3 (Shimizu et al. Trong môi trường kiém, hoat tinh IgY 6n dinh khi pH không vượt quá 11. Do đoạn Fe của IgY có cau trúc lớn hơn IgG, nên cau trúc của kháng thé IgY có tính ky nước hon so với IgG.
Các nghiên cứu thực hiện vé tính bền vững của kháng thé IgY với nhiệt độ cho thấy, ngưỡng nhiệt độ của kháng thé IgY tôn tại bền vững trong khoảng 60°C đến xấp xỉ 70°C. Khi nâng nhiệt độ lên cao hơn, hoạt tính của IgY bị phá huỷ hoàn toàn. Kháng thể IgY có khả năng kháng lại sự phân huỷ của trypsin và chymotrypsin, nhưng lại rất nhạy cảm với enzyme pepsin. Tính bền vững của IgY đối với pepsin phụ thuộc rất nhiều vào độ pH của môi trường va tỉ lệ giữa cơ chất và enzyme.
Với môi trường có độ pH từ 5 trở lên, IgY có thé kháng lại sự phân huỷ bởi enzyme pepsin. Tuy nhiên ở độ pH thấp hơn, IgY bị phân cắt gân như hoàn toàn [5]. Ky thuật vi bao 1. Các kỹ thuật vi bao Vi bao là một phương pháp bao gói các vi chất hay vật liệu (các thành phần thực phâm, enzyme, tê bao, hoặc các vật liệu khác) trong các viên bao nhỏ và chỉ giải phóng các thành phần bên trong khi gặp điều kiện thích hợp (dung môi, lực cắt, nhiệt độ, pH, enzyme), thường được gọi la “microcapsules”.
Microcapsules giúp bảo vệ các thành phan thực phẩm nhạy cảm, đảm bảo chồng lại sự mất mát về chất dinh dưỡng, giữ được hương vi và có thé chuyển chất lỏng thành các thành phan ran dé dàng xử lý [6]. Kích thước của các hạt vi bao trong khoảng từ vai pm đến vài mm và có vô số các hình dạng khác nhau. tùy thuộc vao vật liệu và phương pháp được sử dụng làm ra nó. Câu tử được được bao bên trong gọi là lõi nhân, vật liệu bao bên ngoài được gọi là vỏ bao.
Việc hình thành các dạng vi bao phụ thuộc chu yếu vào cầu tao của lõi nhân cần vi bao và quá trình hình thành lớp vỏ bao. Các hạt vi bao với 4 hình thái thường gap: — Đơn lõi (monocore): hạt vi bao bao gồm 1 nhân và lớp vỏ bao bên ngoài. — Dạng đệm (matrix): nguyên liệu cần vi bao là lõi nhân được phân tán đồng nhất trong vỏ bao. — Vi bao nhiều lớp (multi-layer capsule): màng vi bao là sự kết hợp của nhiều lớp mang có tinh chất khác nhau.
Mononuclear Polynuclear Matnx Hình 1. Các loại cấu tr cco banc. a hạt vi bao Vật liệu nhân thường có những tính chất sau: — Là chất rắn hoặc lỏng. — Chất lỏng có khả năng hòa tan hoặc phân tán.
— Chất có hoạt tính sinh học hoặc được tính. Chất mang thường có những đặc tính: — Không phản ứng với vật liệu nhân. — Hoạt động ôn định va tương thích với vật liệu nhân. — Đa dạng va giá thành rẻ.
Kỹ thuật vi bao phụ thuộc vào tính chất vật lý và hóa học của vật liệu sử dụng vi bao. Có nhiều phương pháp khác nhau sử dụng trong vi bao. Có 3 phương pháp vi bao thường được sử dụng như sau [7]: — Phương pháp vật lý: sấy phun, ép dun. — Phương pháp hóa lý: tạo giọt đơn hay phức hợp (phân tách pha nước), quá trình phân chia nhũ tương — dung môi (phân tách pha hữu cơ), tạo gel.
— Phương pháp hóa học: trùng hợp bề mặt, bao thé phân tử. Phương pháp vi bao tạo gel Phương pháp vi bao tạo gel được sử dụng rất phố biến trong ngành dược phẩm đặc biệt là trong sản xuất thuốc cung cấp qua đường miệng. Phương pháp này dựa trên khả năng liên kết chéo của các chất đa điện ly dưới sự hiện diện của các ion như Ca?*, Ba?" và Al** tạo thành dang hydrogel [7]. Các hạt hydrogel được tao ra bang cách nhỏ dung dich polymer có chứa chat nhân vào dung dich ion dương da hóa trị.
Các ion dương này sẽ khuếch tán vào polymer mang chất nhân, tạo thành mạng lưới ba chiều của liên kết ion chéo [8]. Polyelectrolyte solution [Sodium Alginate (-)/Gellan gum (-)/CMC (-)/Pectin (-)/ Chitosan (+) + Drug] { Added drop wise under magnetic stirring by needle | Counter ion solution [Calcium chloride solution (+)/Sodium tripolyphosphate (-)] | Gelispheres Hình 1. Quá trình vi bao tạo gel[8] Trong phương pháp vi bao tao gel, các nghiên cứu hiện nay ngày càng quan tam đến việc sử dụng polymer tự nhiên làm chất mang do khả năng tương thích sinh học và khả năng phân hủy sinh học cao. Các polymer tự nhiên hoặc bán tong hợp như: Alginates, Gellan Gum, Chitosan, Pectin và Carboxymethyl cellulose được sử dụng rộng rãi trong phương pháp vi bao này.
Các chất đa điện ly tự nhiên chứa anion/ cation nhât định trên câu trúc hóa hoc của chúng, những anion/ cation tạo thành câu trúc mạng lưới băng cách kết hợp với ion trái dau cùng điện tích trong dung dịch và tạo gel bang các liên kết chéo [8]. Các chất da điện li sử dụng trong phương pháp vi bao tạo gel[8] Table 1: Polyelectrolytes used in lonotropic gelation Natural polymers Synthetic monomers/polymers Multivalent Cations Chitosan Hydroxyethylmethacryate (HEMA) Calcium (Ca‘?) Alginate N-(2-Hydroxy propyl}methacrylate (HPMA) Potassium (K') Fibrin N-Vinyl-2-pyrrolidone (NVP) Ferric (Fe), Barium (BA?) Sodium (Na*) Magnesium(Me*) Collagen N-Isopropylacrylamide (NIPAMM) Aluminium (Al*) Gelatin Vinyl acetate (VAc) Zinc (7n?) Hyaluronic acid Acryolic acid (AA) Dextran Methacrylic acid (MAA) Polyethylene glycol acrylate/methacrylate (PEGA/PEGMA) Polyethylene glycol diacrylate/dimethacrylate (PEGDA/PEGDMA) 10 1. Chitosan Chitosan là một dẫn xuất của chitin được hình thành khi tach nhóm acetyl (quá trình deacetyl hoá chitin) khỏi chitin nên chitosan chứa rất nhiều nhóm amino. Nói cách khác, chitosan là một polymer của D-glucosamin, được phát hiện lần đầu tiên bởi Rouget vào năm 1859 [9].
Công thức cấu tạo của chitosan gần giống như chitin và cellulose, chỉ khác là chitosan chứa nhóm amin ở carbon thứ 2. Chitosan là sản phẩm của quá trình deacetyl hóa chitin băng kiểm đặc (mức độ deacetyl hoá của chitin đạt trên 50%); là một polymer chứa các don vi là Glucosamine và N-acetyl-glucosamine liên kết với nhau băng liên kết B-14- glycoside. Trong tự nhiên, chitosan xuất hiện ở thành tế bào của một số loài nắm, tuy nhiên, trong thương mai chitosan được sản xuất bang cách deacetyl hoá chitin [9]. Công thức phan tử: (C6H1104N)n Khối lượng phân tử: Mehitosan= (161.