mở đầu yêu nhận thức, muốn làm thi nhân thì hãy yêu cảm xúc của mình [4; tr. Tâm lí học đại cương và tâm lí học phát triển nhấn mạnh rằng tình yêu là một đặc trưng tâm lí ở tuổi thanh niên. Trong tâm lí học đại cương, Phạm Minh Hạc cho rằng tình yêu là vấn đề muôn thuở của loài người, là sự phát triển hợp quy luật của tâm lí con người. Còn Vũ Dũng cho rằng tình yêu là tình cảm mãnh liệt đắm say và tương đối bền vững được tạo nên do những nhu cầu ẩn dấu sắc thái sinh lí của chủ thể.
Tóm lại, tâm lí học quan niệm tình yêu là một dạng tình cảm đặc biệt giữa hai người khác giới, thể hiện sự hòa hợp, cuốn hút, say mê cả về thể xác lẫn tâm hồn. Tình yêu nam - nữ còn được xem xét dưới góc nhìn giáo dục học. Nó là “mối quan hệ liên nhân cách, là một loại tình cảm đạo đức. Tình cảm ấy là tình cảm tự nhiên, xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người trên quả đất” [11; tr.
Nhà giáo dục Nga V. Xukhômdiuxki cho rằng tình yêu là biểu hiện nền văn hóa cao cấp của nhân loại. Chỉ cần xem một người yêu đương ra sao, ta có thể kết luận đó là người thế nào. Dưới cái nhìn của ông, tình yêu nam nữ là tình cảm thiêng liêng, mang bản chất người.
Và cách yêu cũng là dấu hiệu để phân biệt mức độ văn minh của con người. Theo chúng tôi, đây là một quan niệm rất tiến bộ và sâu sắc. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, Hoàng Phê đã định nghĩa tình yêu là: “Tình cảm yêu đương giữa nam và nữ”[21; tr. Qua những quan niệm về tình yêu trên đây, cuối cùng, chúng tôi rút ra được quan niệm về tình yêu theo quan điểm riêng của chúng tôi như sau: Tình yêu nam nữ là trạng thái tình cảm của một người nam với một người nữ ở mức độ cao hơn sự thích thú thông thường, biểu hiện ở nguyện vọng, ý muốn được gắn kết, hòa hợp với đối tượng ấy cả về mặt thể xác, thể chất lẫn tình cảm, tâm hồn.
Tình 21 yêu là loại tình cảm chứa đựng những cảm xúc có tính chất phức hợp: cảm xúc về tâm hồn tạo ra tình bạn; cảm xúc về tri thức tạo ra lòng kính trọng và ngưỡng mộ; cảm xúc về thể xác tạo ta lòng ham muốn bản năng. Trên đây là quan niệm riêng của chúng tôi về tình yêu. Với khái niệm này, chúng tôi vận dụng để đi tìm hiểu về tình yêu nam nữ trong ca từ Trịnh Công Sơn. Về khái niệm ca từ Một bài hát, một tác phẩm âm nhạc (trừ nhạc không lời, nhạc giao hưởng, thính phòng) bao gồm 2 yếu tố cấu thành: phần nhạc và phần lời.
Phần nhạc bao gồm giai điệu, tiết tấu… Phần lời chính là ca từ. Nói cách khác, trong âm nhạc, ca từ chính là phần lời của bài hát. Ca từ trong tác phẩm âm nhạc giữ một vai trò rất quan trọng. Nó bổ sung tính cụ thể, sinh động cho hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm.
Nói cách khác, nó làm nhiệm vụ, chức năng như là người hướng dẫn, mở đường, phiên dịch hay “thuyết minh”, dẫn giải cho người thưởng thức tác phẩm (khán - thính giả) bằng thứ ngôn ngữ phổ biến, phổ thông mà cộng đồng đã quen sử dụng trong cuộc sống, giao tiếp hàng ngày. Lại cần chú ý, không phải tác phẩm âm nhạc nào cũng có ca từ. Những nhạc phẩm không lời, giao hưởng chỉ có duy nhất phần nhạc, tức là giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu… còn phần lời thì không tồn tại. Và người nghe chỉ thưởng thức sự mượt mà, du dương của phần nhạc mà thôi.
Ngược lại, một tác phẩm có đầy đủ cả phần nhạc và lời, song người nghe chưa chắc đã hiểu được một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, một người Việt Nam mù ngoại ngữ mà nghe một bài hát bằng tiếng Anh, tiếng Pháp thì chắc chắn không tiếp thu được một cách trọn vẹn ý nghĩa của bài hát. Sở dĩ như vậy là vì ca từ bài hát ấy không phải là tiếng Việt – ngôn ngữ của chủ thể cảm nhận. Ca từ có tác dụng môi giới, mở cửa cho hình tượng âm nhạc đi vào lòng người thưởng ngoạn.
Sở dĩ như vậy là vì, ngôn ngữ (bằng lời) là phương tiện giao tiếp phổ biến và quan trọng nhất của con người. Trong một tác phẩm âm nhạc, phần nhạc (âm thanh) và phần lời (ca từ) có mối quan hệ biện chứng, khăng khít với nhau, tương sinh với nhau, tựa như phần “xác” và “hồn” của tác phẩm vậy. Song trên thực tế, cũng có nhiều tác phẩm, khi ta tiến hành bóc tách phần ca từ ra khỏi khuông nhạc thì nó vẫn có thể tồn tại được như những bài thơ. Bởi ca từ thấm đẫm chất thơ, mang tính thơ: đẹp, lấp lánh, có tính hình tượng, có vần, nhịp và sử dụng các thủ pháp nghệ 22 thuật của thơ.
Nó rất dễ dàng đi vào lòng người đọc, người nghe bởi tính chất mượt mà, trữ tình và những tình ý, những ý nghĩa, thông điệp nhân văn sâu sắc mà người nhạc sĩ gửi gắm vào trong tác phẩm của mình. Ca từ không chỉ có tính biểu hiện và chất trữ tình mà trong một số tác phẩm nó còn chứa đựng những yếu tố triết lí, triết luận về đời sống nhân sinh. Và người thưởng thức có thể xem chúng như những câu châm ngôn, hay những đoạn thơ, bài thơ hay. Trong nền âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ có những tác phẩm như vậy.
Tác phẩm của ông là sự kết hợp giữa chất lãng mạn, trữ tình với chất triết lí, suy tư về lẽ sống, đồng thời lại mang âm hưởng bi kịch. Đó là nét riêng, độc đáo trong ca từ âm nhạc của Trịnh Công Sơn mà không thể lầm lẫn với ai được. Với những vai trò và chức năng quan trọng đã nêu trên đây, ta có thể khẳng định rằng ca từ là một phần không thể thiếu được trong âm nhạc. Vậy ca từ trong âm nhạc là gì? Ở đây, để tiện làm việc, chúng tôi chấp nhận quan niệm của nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam - Dương Viết Á: Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch, tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc…).
Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: ca từ [1; tr. Với khái niệm nêu trên, áp dụng vào đề tài cụ thể nghiên cứu con người thân phận và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn, luận văn giới hạn nghiên cứu chỉ phần lời trong ca khúc của ông. Quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người thân phận Con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn là nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra ở miền Nam. Cuộc chiến leo thang ác liệt, số phận quần chúng bị thử thách.
Họ bị đàn áp, mất quyền tự do, thậm chí bị hủy diệt sinh mạng. Chứng kiến những điều đau đớn lòng ấy, Trịnh Công Sơn đã viết nên các ca khúc thức tỉnh, đồng thời đưa ra quan niệm của ông về con người. Chúng ta có thể tìm thấy những quan niệm ấy trong lời tựa của các tập Kinh Việt Nam, Ca khúc da vàng, Ta phải thấy mặt trời… và trong hồi kí của ông. Từ 1965, khi quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam, thân phận con người đã trở thành một 23 vấn nạn.
Trịnh Công Sơn đã vạch cho mọi người thấy được cái thân phận làm người bi đát, mong manh “như thân cỏ hèn”, bất lực trước thực tại tàn khốc. Trong phần giới thiệu tập Ca khúc da vàng (1967), ông đã bày tỏ quan niệm về thân phận mong manh của con người bằng những lời lẽ đau đớn và thống thiết: Tất cả đã bể, đã vỡ toang. Tiếng thét đã chìm xuống biển thành tiếng nói trầm tư, thành lời kêu uất về thân thế Việt Nam. Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên cùng khắp.
Ơi những bạn bè thân yêu đã chết từ đỉnh cao hay vực thẳm. Con người đã hóa thân làm vết thương. Cái chết đã hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa. Đã biến hình đổi dạng từ những cơn hiểm họa cay nghiệt nhất của nhân loại.
Lìa cha mẹ, anh em, bằng hữu yêu dấu vô cùng. Hãy kết hỏa châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ. Đốt đuốc cho người điên ấm phố mùa đông. Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về bây giờ như thế đó.
Hỡi người yêu da vàng của tôi, hãy duỗi tay thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn. Tôi sẽ làm người tiều phu đi nhặt từng cánh tay, bàn chân, từng đốt xương, sọ người, vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng cho đêm tìm lại dấu vết của một hành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm. Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau. Hãy thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó [35; tr.
Lời thức tỉnh trên, có hai vấn đề chính mà ông đề cập đến: sự hủy diệt của chiến tranh và ý thức về cội nguồn dân tộc. Dưới cái nhìn riêng của ông, chiến tranh không phải là sự oai hùng, mà là sự hủy diệt tận cùng những sinh mệnh. Do đó thân phận con người hết sức mong manh, điêu linh và bất lực. Cái chết của con người đã “hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa”, đó là những cái chết hết sức phi lí.
Từ ý thức về thân phận mong manh ấy, Trịnh Công Sơn đã gợi nhắc, làm ta nhớ lại cội nguồn dân tộc xưa kia, con người đoàn kết một dải từ miền Triết Giang hùng vĩ đổ về. Ông muốn gieo mầm băn khoăn, trăn trở vào lòng người. Để con người dừng lại suy nghĩ mà bừng tỉnh. Và chính sự bừng tỉnh kịp thời ấy là nguyên khởi cho sự đoàn kết, để không còn “ám khí dày đặc” chia cắt anh em.
Từ đó, mọi người cùng nhau siết chặt cánh tay, tâm can như nhất, giải phóng dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ. Sau Mậu Thân, những đô thị miền Nam bị tàn phá tan hoang. Với thực trạng máu xương như thế, với lương tri và sự nhạy cảm của người nghệ sĩ trước những cái chết của đồng bào mình, Trịnh Công Sơn không thể không xúc động.