chương I, Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung năm 2005 thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của luật này”. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những hình thức của đầu tư quốc tế, được đặc trưng bởi quá trình di chuyển vốn và tài sản từ quốc gia này sang quốc gia khác để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo nhu cầu và khả năng của các nhà đầu tư và của các quốc gia. Nói cách khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư dài hạn, trong đó chủ đầu tư là người nước ngoài đưa vốn vào một nước khác và tham gia trực tiếp vào việc quản lý sử dụng vốn theo quy định của luật đầu tư nước sở tại nhằm mục tiêu thu lợi nhuận cao. Điều đó có nghĩa là xét về mặt chủ thể thì đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nước ngoài.
Yếu tố nước ngoài ở đây không chỉ là sự khác biệt về quốc tịch hay lãnh thổ sinh 10 c sống, mà còn xác định tư bản di chuyển trong đầu tư trực tiếp của các nước ngoài bắt buộc phải vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia. Đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp được thực hiện bằng vốn của các chủ đầu tư phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo quy định của Luật Đầu tư của từng nước quy định. Ví dụ: Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án, Mỹ quy định 10%. Thứ hai, là hình thức đầu tư mang nặng tính thị trường và hiệu quả kinh tế cao.
Đây là một hình thức đầu tư vốn đã có nhiều sự ràng buộc và đã được “bén rễ” ở nước sở tại nên không dễ rút đi trong một thời gian ngắn. Thứ ba, chủ đầu tư nước ngoài quản lý toàn bộ mọi hoạt động đầu tư (công tác quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh) nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy thuộc tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư. Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có). Nguồn vốn đầu tư trực tiếp không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả nguồn vốn đi vay của doanh nghiệp, cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được để triển khai hoặc mở rộng dự án trong quá trình hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp của nước chủ nhà còn có thể tiếp thu công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại. Đây là những mục tiêu và lợi thế của đầu tư trực tiếp mà hình thức đầu tư khác không có được. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước sở tại trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Hình thức đầu tư trực tiếp này có đặc điểm là cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư; không 11 c hình thành một pháp nhân mới; thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thỏa thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết hoàn thành mục tiêu của hợp đồng; vấn đề tỷ lệ vốn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Vì vậy, hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Một doanh nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh. Hình thức doanh nghiệp liên doanh có các đặc điểm là cho ra đời một doanh nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn; thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp liên doanh được qui định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước; các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn pháp định của mỗi bên.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại. Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo qui định của pháp luật của nước sở tại. Doanh nghiệp nước ngoài hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có các đặc điểm là được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân nước ngoài được phép hoạt động ở nước sở tại; hoạt động dưới sự chi phối của luật pháp nước sở tại.
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư nước ngoài (cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài) với cơ quan có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng, tiến hành khai thác và kinh doanh trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạn thì chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước tiếp nhận. Vốn để thực hiện hợp đồng này có thể là 100% vốn nước ngoài cộng với vốn của chính phủ hoặc tổ 12 c chức, cá nhân nước sở tại. Các chủ đầu tư có toàn quyền tổ chức xây dựng, khai thác, kinh doanh công trình trong một thời gian nhất định đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Ngoài hình thức trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có các hình thức khác như đầu tư vào khu chế xuất, đặc khu kinh tế.
Mục đích của việc xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất là thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia hoạt động kinh doanh vào khu vực này. Do có nhiều hình thức hợp tác đầu tư và mỗi hình thức lại có đặc điểm khác nhau nên phải đa dạng hóa các hình thức đầu tư, lựa chọn hình thức đầu tư và mô hình quản lý phù hợp, nhằm đồng thời giải quyết nhiều vấn đề của mục tiêu hợp tác đầu tư như kết hợp lợi ích bên đầu tư và bên nhận đầu tư, kết hợp thực hiện mục tiêu thu hút vốn với điều chỉnh cơ cấu FDI phù hợp với cơ cấu chung của nền kinh tế, với qui hoạch phát triển lực lượng sản xuất của quốc gia, từng ngành và từng địa phương. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp có những thế mạnh riêng. Trong đầu tư trực tiếp, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án cao, nhất là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu.
Vì quyền lợi gắn với dự án, nhà đầu tư quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân. Do vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế cả ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư nói chung, cũng như đối với sự thịnh vượng lâu dài của các doanh nghiệp nói riêng. Đối với các nước đầu tư, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nước đầu tư sẽ thu được các nguồn lợi như các nước đầu tư sẽ khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm (nhờ giảm giá nhân công và chi phí sản xuất khác), nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá cả phải chăng, đồng thời giảm bớt rủi ro nếu chỉ tập trung vào thị trường trong nước. Thông qua FDI, các nước đầu tư có điều kiện di chuyển một bộ phận máy móc thiết bị ở giai đoạn “lão hoá” hoặc có nguy cơ bị hao mòn vô hình sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, 13 c tăng tốc độ khấu hao, giúp thu hồi vốn nhanh, kéo dài thêm chu kỳ sống của sản phẩm.
Các nước nhận đầu tư có tài nguyên dồi dào, nhưng do hạn chế về tiền vốn, kỹ thuật công nghệ nên những tài nguyên đó chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả. Tình hình này đã giúp các nước đầu tư có điều kiện tạo lập được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định, hạ thấp chi phí sản phẩm do khai thác được nguồn lao động dồi dào với giá rẻ ở nước sở tại, tăng tỷ suất lợi nhuận; thông qua việc xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài, các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước; mặt khác, thông qua ảnh hưởng về kinh tế, nước đầu tư có khả năng thâm nhập vững chắc vào thị trường của nước nhận đầu tư, từ đó mở rộng thị trường sang các nước láng giềng và toàn khu vực.