CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh nghiên cứu Tiền Giang nằm trong khu vực ĐBSCL, giữa hai thành phố lớn của phía Nam là thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) và thành phố Cần Thơ; phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An, TP HCM; phía Tây giáp Đồng Tháp; phía Nam giáp Bến Tre, Vĩnh Long và phía Đông giáp biển Đông [Phụ lục 1]. Đây được xem là cửa ngõ về ĐBSCL đồng thời là vùng tiếp giáp quan trọng giữa vùng KTTĐĐBSCL và vùng KTTĐPN. Tiền Giang thuộc vùng KTTĐPN – vùng kinh tế phát triển năng động, dẫn đầu cả nước về nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội.
Có thể thấy rằng vị trí địa – kinh tế của Tiền Giang là một lợi thế đặc thù cho sự phát triển kinh tế địa phương. Trong giai đoạn 2000 – 2011, Tiền Giang đạt tốc độ tăng trưởng trung bình khá ổn định, (2000 – 2005: 9%/năm, 2006 – 2011: 10.8%/năm), cao hơn mức trung bình chung của cả nước. Mức sống người dân cũng có nhiều chuyển biến rõ rệt, GDP bình quân đầu người năm 2011 theo giá thực tế đạt 27.7 triệu đồng, tỷ lệ nghèo chung giảm từ 13.2% năm 2006 xuống còn 10% năm 2011, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước 14. Mặc dù các chỉ tiêu cho thấy sự tăng trưởng đi lên nhưng Tiền Giang chỉ đạt vị trí trung bình của khu vực ĐBSCL và thuộc nhóm thấp trong vùng KTTĐPN.
Theo chủ trương chung của nhà nước, Tiền Giang đang cố gắng để đạt được mục tiêu “công nghiệp hóa” nhưng cơ cấu kinh tế gần như không có sự chuyển dịch lớn, thậm chí đi ngược lại so với kế hoạch đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm có thể được giải thích bởi vùng đất này có truyền thống nông nghiệp lâu đời, địa lý, thiên nhiên có nhiều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thủy sản – vùng đất màu mỡ, phù sa bồi đắp, diện tích đất nông nghiệp chiếm 76.3% dân số tập trung ở khu vực nông thôn. Việc Tiền Giang thuộc Vùng KTTĐPN được kỳ vọng rằng đây sẽ là một điểm đến “đầy tiềm năng” nhưng chưa có sự lan tỏa, thiếu liên kết nội vùng, liên vùng để thu hút đầu tư, hợp tác cùng phát triển. Số lượng doanh nghiệp về địa phương ít, quy mô sản xuất nhỏ trong đó các dự án FDI lại càng khiêm tốn cả về số lượng lẫn vốn đầu tư.
Các mặt hàng xuất khẩu ở địa phương chủ yếu là các mặt hàng nông sản sơ chế, thủy sản và hàng may mặc không mang lại giá trị gia tăng cao. 2 Có thể thấy rằng mặc dù có nhiều lợi thế nhưng sự phát triển của Tiền Giang chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Trong bối cảnh toàn cầu nhiều thay đổi, thành tựu tăng trưởng hiện tại không không hẳn đảm bảo sự ổn định và phát triển tương lai. Do đó, nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Tiền Giang”sẽ đưa ra cái nhìn toàn diện hơn nhiều lĩnh vực đồng thời tìm ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nâng cao NLCT.
Các khuyến nghị này góp phần định hướng cho địa phương trong việc hoạch định chiến lược nhằm duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá các yếu tố quyết định NLCT để nhận diện ra các yếu tố cốt lõi thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của tỉnh Tiền Giang. Từ đó, nghiên cứu đề xuất những gợi ý chính sách nhằm nâng cao NLCT của tỉnh. Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Thực trạng NLCT của tỉnh Tiền Giang như thế nào? Câu hỏi 2: Những nhân tố cốt lõi nào ảnh hưởng lớn nhất đến NLCT tỉnh Tiền Giang? Câu hỏi 3: Tỉnh Tiền Giang cần thực hiện chính sách gì để nâng cao NLCT? 1.
Phương pháp luận và khung phân tích 1. Phương pháp: Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính thông qua 4 bước chính [Phụ lục 2]: - Bước 1: Thu thập số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê (NGTK) tỉnh Tiền Giang và các tỉnh ĐBSCL, Tổng cục Thống kê (TCTK), MDEC & Fulbright,… để phân tích, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội và nhận định một số vấn đề chính về NLCT, chuẩn bị các nội dung cần phỏng vấn. - Bước 2: Phỏng vấn lãnh đạo địa phương, các sở ban ngành, doanh nghiệp, nông dân – các đối tượng liên quan đến quá trình phân tích. Mục tiêu của bước này là tiếp xúc trực tiếp để có thêm thông tin, minh chứng, giải thích cụ thể hơn cho những nhận định thông qua số liệu.
3 - Bước 3: Tổng hợp bước 1, bước 2 để đánh giá toàn diện NLCT, nhận diện các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng lớn nhất đến NLCT để từ đó đề xuất các nhóm khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT. - Bước 4: Với chính sách đã đề xuất, tìm kiếm một số mô hình gợi ý tham khảo, nhận diện một số rào cản khi triển khai thực hiện. Khung phân tích Nghiên cứu dựa vào nền tảng lý thuyết của mô hình các nhân tố quyết định NLCT của Porter được Vũ Thành Tự Anh điều chỉnh theo cấp độ địa phương. Theo khung lý thuyết của mô hình này, NLCT được đo lường và quyết định bởi năng suất sử dụng các nguồn lực (vốn, lao động, đất đai và tài nguyên khác).
Năng suất cũng đóng vai trò quan trọng vì là yếu tố quyết định sự thịnh vượng của các địa phương. Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình1 Nguồn gốc của tăng trưởng năng suất, theo Porter và được Vũ Thành Tự Anh điều chỉnh, gồm ba nhóm nhân tố chính: (i) Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương: bao gồm Tài nguyên thiên nhiên; vị trí địa lý; quy mô địa phương. Các yếu tố “thiên phú” này là những lợi thế riêng của từng địa phương.
Những nhân tố này không chỉ là số lượng mà còn bao gồm sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, chi phí đất đai, khí hậu, địa thế, nguồn khoáng sản, nguồn nước, nguồn lợi thủy sản, ngư trường… Nhóm yếu tố này không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng nó có thể xác lập được một lợi thế so sánh nhất định, hỗ trợ trực tiếp cho sự thịnh vượng. (ii) Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương: bao gồm Hạ tầng văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục (hạ tầng mềm); Hạ tầng kỹ thuật (hạ tầng cứng) như giao thông vận tải, điện, nước, viễn thông; Chính sách tài khóa, tín dụng, cơ cấu kinh tế. Đây là nhóm nhân tố xác định môi trường để các công ty/doanh nghiệp hoạt động. Mặc dù không tác động trực tiếp đến năng suất nhưng nhóm nhân tố này tạo cơ hội cho các yếu tố thúc đẩy năng suất được phát huy.
1 Porter (2008) 4 (iii) Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp: bao gồm Môi trường kinh doanh; Trình độ phát triển cụm ngành; Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này mô tả các yếu tố bên ngoài và bên trong tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, do đó tác động trực tiếp đến năng suất.1 Khung phân tích NLCT địa phương NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP Trình độ phát triển cụm Hoạt động và chiến lược Môi trường kinh doanh ngành của DN NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG Hạ tầng văn hóa, giáo Hạ tầng kỹ thuật (GTVT, Chính sách tài khóa, đầu dục, y tế, xã hội điện, nước, viễn thông) tư, tín dụng CÁC YẾU TỐ SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG Tài nguyên thiên nhiên Vị trí địa lý Quy mô địa phương Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2012), điều chỉnh từ mô hình của Porter (1990) 1. Bố cục của nghiên cứu Phần còn lại của nghiên cứu bao gồm bốn chương: Chương 2: Xem xét các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2000 – 2011. Các số liệu được phân tích, so sánh để đưa ra một bức tranh tổng thể về sự phát triển của Tiền Giang trong bối cảnh phát triển của cả nước và vùng.
Chương 3: Thực trạng NLCT: tác giả nhận diện các yếu tố quyết định NLCT: lợi thế sẵn có, NLCT cấp độ địa phương, NLCT cấp độ doanh nghiệp. Chương 4: Đánh giá NLCT và nhận diện các yếu tố cốt lõi, quan trọng nhất quyết định NLCT. Từ kết quả phân tích, tác giả gợi ý một số chính sách để nâng cao NLCT của tỉnh. Chương 5: Kết luận và hạn chế của nghiên cứu.
5 CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG 2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế 2. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) Nền kinh tế tỉnh Tiền Giang trong những năm gần đây duy trì tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. Giai đoạn 2000 – 2005, GDP tăng trưởng bình quân đạt 9%, cao hơn giai đoạn 1995 – 2000 (8.1%) và cao hơn mức bình quân của cả nước giai đoạn này (7.
Giai đoạn 2006 – 2011 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10.8%, cao hơn mức bình quân của cả nước (7. So với mức trung bình chung của khu vực ĐBSCL, mặc dù tốc độ tăng GDP bình quân của Tiền Giang thấp hơn bình quân của khu vực (11.2%) nhưng giá trị tuyệt đối luôn đạt cao hơn giá trung bình.1 GDP tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2000 – 2011 GDP ĐBSCL GDP trung GDP GDP Tốc độ (Giá so sánh) bình ĐBSCL Năm (Giá thực tế) (Giá so sánh) tăng trưởng (tỷ đồng)4 (Giá so sánh) (tỷ đồng) (tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) 2000 6,916 5,307 8.2% bình Nguồn: Cục thống kê Tiền Giang (2006, 2012), NGTK Tiền Giang 2005, 2011 2 Tính toán từ NGTK Việt Nam (2006) 3 Tính toán từ NGTK Việt Nam (2012) 4 Số liệu GDP ĐBSCL lấy từ VCCI Cần Thơ (2012) 6 Đóng góp của Tiền Giang vào GDP khu vực ĐBSCL tăng trong giai đoạn 1995 – 2000 (từ 9.5%) nhưng giai đoạn gần đây giảm dần, chỉ chiếm 8. Điều này cho thấy trong xu hướng phát triển của vùng ĐBSCL, vai trò của Tiền Giang đang dần trở nên mờ nhạt bởi sự tăng trưởng nhanh của một số tỉnh như An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp. Nếu so sánh với các tỉnh trong vùng KTTĐPN thì tăng trưởng của Tiền Giang vẫn còn khoảng cách khá xa so với các tỉnh trong vùng [Bảng 2.
Nhìn chung, Tiền Giang thuộc nhóm thấp trong vùng KTTĐPN; ở một vị trí “trung bình” trong khu vực ĐBSCL, tăng trưởng cao hơn một số tỉnh nhưng đang dần tụt lại khi mà một số tỉnh đang có sự bức phá nhanh trong tăng trưởng.