Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm nghèo Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy khái niệm nghèo được thừa nhận rộng rãi là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị bàn về chống đói nghèo trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan): “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [32, tr. Công trình này sử dụng khái niệm trên trong quá trình nghiên cứu. Bởi lẽ, khái niệm trên đã phản ánh được bản chất, đặc trưng cơ bản nhất của nghèo, đó chính là bộ phận dân cư “không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận”, đòi hỏi chính quyền cũng như cộng đồng phải có những hành động cụ thể để hỗ trợ, giúp đỡ. Cũng chính từ cách hiểu này mà chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam xây dựng những chương trình, kế hoạch cụ thể để trợ giúp, tạo ra những cơ hội, điều kiện nhằm giúp cho bộ phận cư dân này có cơ hội thoát nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Điều đó không chỉ thể hiện tính nhân văn mà còn góp phần đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển. Nghèo luôn gắn với những không gian, thời gian xác định, lệ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, chính vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi địa phương có những chuẩn nghèo khác nhau. 8 Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lường và giám sát đói nghèo. Các quốc gia thường xây dựng chuẩn nghèo riêng và thường thấp hơn chuẩn nghèo do ngân hàng thế giới đưa ra.
* Chuẩn nghèo của Việt Nam được điều chỉnh theo không gian và thời gian. Về không gian, chuẩn nghèo của Việt Nam biến đổi theo trình độ phát triển KT - XH của 03 vùng sinh thái khác nhau, đó là: Vùng thành thị, vùng nông thôn đồng bằng và vùng nông thôn miền núi. Về thời gian, chuẩn nghèo được điều chỉnh theo trình độ phát triển KT - XH và nhu cầu con người trong từng giai đoạn cụ thể. Căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển KT - XH, từ năm 1993 đến nay, nước ta đã 8 lần công bố tiêu chí cụ thể để đánh giá hộ nghèo và chuẩn nghèo đa chiều.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định cụ thể như sau: + Hộ nghèo khu vực nông thôn: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Hộ nghèo khu vực thành thị: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng đủ từ 900.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên.
9 Liên quan đến khái niệm nghèo còn có khái niệm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều, tái nghèo, giảm nghèo. Nghèo tuyệt đối: Nghèo tuyệt đối là không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản (cả nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu phi lương thực) nhưng những nhu cầu cơ bản này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của từng địa phương chứ không ổn định. Nghèo tương đối: Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước. Nghèo đa chiều: Nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác.
Thay vì xem xét nghèo thu nhập, những ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo. Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác. Tái nghèo: Tái nghèo được hiểu là tình trạng một hộ gia đình đã thoát nghèo quay trở lại hộ nghèo trong một thời gian nhất định. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách xóa đói, giảm nghèo nhưng kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm còn cao; chênh lệch giàu và nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Giảm nghèo: Giảm nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo (tỷ lệ phần trăm và số lượng người 10 nghèo giảm xuống. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Ở Việt Nam, Chính phủ đã chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng tái nghèo là một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân cấp chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, thậm chí thay đổi chuẩn nghèo cũng gây ra hiện tượng tái nghèo.
Khái niệm giảm nghèo bền vững Có thể hiểu một cách chung nhất về giảm nghèo bền vững như sau: Giảm nghèo bền vững có thể được hiểu là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân. Giải quyết vấn đề nghèo nói chung cần đảm bảo trên cả 02 phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định, cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo… Về chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Giảm nghèo bền vững thể hiện trên các khía cạnh sau: (1) Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, từng 11 giai đoạn; điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt bao gồm các điều kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở, mặt khác người nghèo cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; người nghèo có nhiều cơ hội để tự vươn lên thoát nghèo và phát triển thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách giảm nghèo đồng bộ và có tính khả thi của Đảng và Nhà nước.
(2) Giảm nghèo bền vững là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với 05 nội dung cơ bản: Y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm, tiếp cận thông tin. Khi chúng ta giúp người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với 05 nội dung cơ bản trên thì có thể giảm nghèo một cách bền vững. Giảm nghèo bền vững thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế xã hội nhằm tăng trưởng kinh tế, tạo công bằng xã hội, ổn định chính trị, phát triển xã hội. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, quyết định, chính sách quan trọng về công tác giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước và hệ thống chính sách đó không ngừng được bổ sung hoàn thiện.
Nhờ đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội cho người dân đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, “Thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ bền vững; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”. Giảm nghèo bền vững có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Nghèo là một quá trình liên quan đến toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, xã hội, nếu không giải quyết vấn đề này sẽ nảy sinh các hiện tượng gây mất ổn định 12 xã hội ảnh hưởng xấu tới chính trị. Phân hóa giàu nghèo đến một mức độ nào đó sẽ trở thành phân hóa giai cấp, xung đột xã hội, từ đó sẽ làm mất ổn định chính trị xã hội.