CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm dịch vụ Trong hệ thống các khái niệm cơ bản đầu tiên về dịch vụ và chất lượng dịch vụ cho đến nay vẫn chưa đạt được sự đồng thuận, thống nhất. Dịch vụ là sản phẩm vô hình được cung cấp nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng (Kuriloff at al., 1993) Dịch vụ là các hoạt động hay tiện ích được cung cấp theo nhóm. Quá trình sản xuất dịch vụ có thể liên quan hoặc không liên quan đến sản phẩm vật chất.,1996) Dịch vụ được định nghĩa là: “ Các hoạt động kinh tế, sản xuất các sản phẩm đặc trưng vô hình như giáo dục, giải trí, thức ăn, khởi kiện, giao thông, bảo hiểm, chính phủ, tài chính, bất động sản, bảo trì sửa chữa y khoa, dịch vụ việc làm” (Heizer và Render,1999) 1.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ. Gronroos(1984) cho rằng chất lượng dịch vụ gồm ba thành phần đó là chất lượng kĩ thuật: những gì khách hàng nhận được; chất lượng chức năng: diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào; hình ảnh là yếu tố rất quan trọng được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ.
Trong đó, chất lượng chức năng quan trọng hơn chất lượng kỹ thuật. Mặt khác, có nhiều thảo luận về việc đo lường chất lượng dịch vụ xoay quanh các khái niệm về chất lượng dịch vụ nơi mà các khái niệm được đề cập là một nhóm các thuộc tính mà khách hàng sử dụng trong việc đánh giá chất lượng các dịch vụ được cung cấp (Asubonteng at al. Parasuraman at al(1985) tranh luận rằng chất lượng dịch vụ có thể xác dịnh là sự khác biệt giữa dự đoán, mong đợi- kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của khách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hàng về dịch vụ mà họ nhận được. Nếu như kỳ vọng cao hơn so với cảm nhận mà khách hàng nhận được khách hàng sẽ cảm thấy ít thỏa mãn, và đó sẽ là cơ hội cho các đối thủ nào đáp ứng được các kỳ vọng của khách hàng nhiều hơn.
Cronin và Taylor(1992) và Teas(1993) lần lượt đưa ra mô hình SERVPERF ,công cụ chất lượng dịch vụ chỉ để đo lường sự cảm nhận của khách hàng và khách hàng không phải luôn luôn mua dịch vụ có chất lượng tốt nhất, thay vào đó họ mua dịch vụ mà họ đánh giá là có một giá trị nền tảng. Cronin và Taylor(1992) chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là khởi sự cho sự thỏa mãn của khách hàng, ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua hàng. Tiếp theo, mô hình chất lượng dịch vụ cảm nhận và sự thỏa mãn của khách hàng hình thành (Spreng và Mackoy,1996) 1.3 Mô hình chất lượng dịch vụ Qua nội dung trên cho ta thấy một điều rõ ràng là chưa có một khái niệm, mô hình hay cách thức đo lường chất lượng dịch vụ thống nhất. Tuy nhiên, mô hình và khái niệm chính hỗ trợ để đánh giá chất lượng dịch vụ là so sánh kỳ vọng của khách hàng về chất lượng kịch vụ và cảm nhận của họ khi trải nghiệm qua nó.
Sau đây luận văn trình bày ba mô hình nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá chất lượng dịch vụ và một mô hình marketing để tạo cơ sở nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu của luận văn ở tiểu mục 1.1 Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronross và cộng sự (1984) Theo Gronroos để đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên ba tiêu chí là chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh. Lý thuyết này đã được nghiên cứu thực tế như đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc(Baker & Lamb,1993),kế toán(Higgin & Ferguson,1991),dịch vụ ngân hàng (Lassar & ctg,2000) Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì khách hàng được phục vụ. Đây là chất lượng khách hàng nhận được thông quan việc tiếp xúc với ngân hàng và được cảm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nhận quan trọng đối với khách hàng. Một số tiêu chí để đánh giá nhân tố này, cụ thể: - Khả năng giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng chuyên môn. - Trình độ tác nghiệp. - Trang thiết bị hiện đại. - Hệ thống lưu trữ thông tin.
Chất lượng chức năng nói lên dịch vụ của ngân hàng được cung cấp như thế nào. Trong tương quan giữa hai khía cạnh chất lượng kể trên thì chất lượng chức năng đóng vai trò quan trọng hơn được thể hiện qua 7 tiêu chí sau: - Sự thuận tiện trong giao dịch. - Hành vi ứng xử - Thái độ phục vụ - Công tác tổ chức ngân hàng. - Tiếp xúc khách hàng - Phong thái phục vụ - Tinh thần tất cả vì khách hàng Hình ảnh là yếu tố rất quan trọng được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ, ngoài ra còn một số yếu tố khác như: truyền thông, truyền miệng, chính sách giá, PR,… Ở mô hình này, ta thấy được các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đơn giản và sơ khởi nhất.
Theo tác giả, để đánh giá chất lượng dịch vụ ta cần hiểu rõ, sâu và chi tiết hơn về chất lượng dịch vụ, điều này đồng nghĩa với việc ta không thể nào bỏ qua mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự(1985) và mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) 1.2 Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) và mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) và mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) là một trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 những mô hình chủ yếu được sử dụng trong dịch vụ marketing dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ. Các mô hình này được sử dụng rộng rãi bởi các nhà quản lý và cả ở các học viện để đánh giá chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được trong các loại hình dịch vụ khác nhau như ngân hàng, các công ty về thẻ, các công ty sửa chữa bảo hành,… *Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) Trong quá trình cung cấp dịch vụ, giữa nhà cung cấp (ngân hàng) và khách hàng luôn tồn tại những khoảng cách. Các khoảng cách này biến đổi phụ thuộc vào hai nhân tố chính là khách hàng và ngân hàng. Bên cạnh đó là những yếu tố môi trường xung quanh tác động, ảnh hưởng đến khách hàng và ngân hàng.
Khoảng cách càng lớn thể hiện khả năng ngân hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng thấp. Parasuraman & ctg(1985) đã đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ hình 1.1 Khoảng cách 1: Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ sẽ nhận được và nhận thức của ngân hàng về những kỳ vọng này của khách hàng. Khoảng cách 1 thường xuất hiện do ngân hàng không hiểu được hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ của mình và đánh giá chưa sát nhu cầu của khách hàng. Khoảng cách 2: Khoảng cách này nảy sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu chất lượng dịch vụ.
Ngân hàng gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của dịch vụ. Khoảng cách thứ hai phụ thuộc chủ yếu vào năng lực thiết kế sản phẩm của ngân hàng. Khoảng cách 3: Xuất hiện khi nhân viên ngân hàng không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. Khoảng cách này phụ thuộc nhiều vào chất lượng đội ngũ nhân viên trực tiếp cung cấp sản phẩm dịch vụ.
Cho dù sản phẩm có được thiết kế đúng ý tưởng, nhiều tiện ích, có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng nếu tại khâu cung cấp, thái độ và trình độ chuyên môn của nhân viên không đảm bảo, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khiến khách hàng cảm thấy phiền toái thì những nỗ lực cố gắng của ngân hàng trong tìm hiểu nhu cầu thị trường, thiết kế sản phẩm,…cũng không còn ý nghĩa.1 Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) Khoảng cách 4: Đây là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế và sự kỳ vọng của khách hàng dưới tác động của thông tin tuyên truyền bên ngoài như quảng cáo, tiếp thị, …. Đó là những hứa hẹn được phóng đại không chính xác, vượt quá khả năng thực hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Điều này rất dễ làm mất lòng tin của khách hàng nếu nhà cung cấp dịch vụ thực hiện quảng cáo, tuyên truyền quá sự thật. Khoảng cách 5: Sau khi sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ có sự so sánh chất lượng dịch vụ mà họ cảm nhận được với chất lượng dịch vụ đã kỳ vọng ban đầu.
Vấn đề mấu chốt đảm bảo chất lượng dịch vụ là những giá trị khách hàng nhận được trong quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ phải đạt hoặc vượt trội so với những gì khách hàng chờ mong. Như vậy, chất lượng dịch vụ được đánh giá cao hay thấp phụ thuộc vào sự cảm nhận về dịch vụ thực tế của khách hàng như thế nào, trong bối cảnh khách hàng mong đợi gì từ ngân hàng. Khoảng cách thứ 5 chính là tiêu chí cuối cùng các nhà quản trị chất lượng dịch vụ hướng tới. Cỡ (lớn hay nhỏ) và hướng (dương hay âm) của khoảng cách này phụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thuộc vào các khoảng cách liên quan đến nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, marketing, phân phối bán hàng.
Có nghĩa là khoảng cách 5 là hàm số của 4 khoảng cách còn lại được thể hiện theo biểu thức ở hình 1.2 Biểu thức của mô hình 5 khoảng cách Ngân hàng muốn đáp ứng tốt kỳ vọng, yêu cầu của khách hàng, hay muốn duy trì, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cần áp dụng đồng bộ các giải pháp để quản trị, rút ngắn các khoảng cách gắn liền với quá trình cung cấp dịch vụ.