mở đầu cho lối tự sự nửa trực tiếp trong Truyện Kiều. Hình thức đó đặc biệt đắc dụng trong việc miêu tả trực tiếp ý nghĩ thầm kín của nhân vật” [54, tr. Về ảnh hưởng của truyện Nôm đối với Truyện Kiều, cũng trong Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đặc biệt chú ý các vấn đề sau: Truyện Nôm trước Truyện Kiều đã có những thành tựu quan trọng, trực tiếp là Truyện hoa tiên đã có những ảnh hưởng sâu sắc tới thi pháp Truyện Kiều. Truyện Nôm đã sáng tạo ra lời kể, lời than, lời bình cố định, lời thoại mang nội dung tư tưởng, tâm lý.
Nhân vật được khắc họa như là những chủ thể có đời sống nội tâm nhất quán. Xét về nội dung, Truyện Kiều tiếp tục những vấn đề của ngâm khúc và truyện Nôm trước nó, đặc biệt là Truyện hoa tiên để thực sự đạt đỉnh cao của thể loại truyện Nôm. Cuối cùng, xét về hình thức, Truyện Kiều đã phát triển những nét mới trong thi pháp truyện Nôm và ngâm khúc lên một trình độ cao chưa từng có. Như vậy, trong Thi pháp Truyện Kiều Trần Đình Sử đã chứng minh sự dung hợp thể loại của Truyện Kiều nhưng trước hết, ta thấy Truyện Kiều là một truyện thơ trường thiên thuộc thể loại thơ lục bát dân tộc, nằm trong truyền thống tự sự - trữ tình độc đáo của Đông Nam Á.
Bao năm qua, truyện Nôm vẫn là một vấn đề phức tạp, những vấn đề liên quan tới nó đều trở thành những vấn đề tranh cãi của các nhà nghiên cứu. Về định nghĩa truyện Nôm, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) đã xác định: “Truyện Nôm là tiểu thuyết viết bằng văn vần”. Trần Đình Sử - Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học) xem truyện Nôm là “truyện thơ viết bằng thể lục bát”. Những định nghĩa này mới chỉ đề cập được mặt hình thức mà chưa nói được đặc trưng về thi pháp thể loại truyện Nôm.
18 Về đặc điểm truyện Nôm, Nguyễn Tấn Đắc viết: “Truyện thơ là thể loại hàng đầu ở Đông Nam Á. Đặc điểm lớn nhất của thể loại này là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn học nói và văn học viết, giữa chất dân gian và bác học” [14, tr. Trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, trên cơ sở tìm hiểu sâu cơ sở xã hội của sự hình thành, phát triển cũng như những đặc điểm của thể loại này, Đặng Thanh Lê nhận xét: “Sự xuất hiện của truyện Nôm là một bước trưởng thành lớn của phương thức tự sự và thể loại tiểu thuyết bằng thơ trong văn học cổ Việt Nam. Với số lượng lớn, với nội dung tư tưởng khá tiến bộ và hình thức nghệ thuật có tính dân tộc và tính nhân dân, truyện Nôm đã biểu hiện một cách độc đáo và sâu sắc truyền thống nhân đạo Việt Nam, một truyền thống bắt nguồn từ tiếng nói sau lũy tre xanh kết hợp với tâm tư tình cảm của người trí thức tiến bộ dưới thời kỳ phong kiến suy tàn.
Sự ra đời của thể loại truyện Nôm đồng thời là nền móng để chắp cánh cho thiên tài Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, ngôi sao số một của truyện Nôm” [34, tr. Kiều Thu Hoạch cho rằng: “Truyện Nôm do chủ yếu lấy truyện xưa tích cũ làm đối tượng miêu tả, diễn ca, nên vô hình trung cũng mang theo luôn vào thể loại của mình một số đặc trưng của truyện cổ tích hoặc truyện kể dân gian trong cách xây dựng nhân vật, trong cách miêu tả thời gian không gian, trong hình thái cấu trúc tác phẩm và trong một số biện pháp nghệ thuật khác” [24, tr. Theo ông, truyện Nôm là một thể loại sinh thành và phát triển từ cội nguồn văn hóa dân gian, cốt truyện của truyện Nôm được xây dựng theo phương thức vay mượn cốt truyện, có ba nguồn đề tài chủ yếu: nguồn đề tài từ hiện thực lịch sử, nguồn đề tài từ các truyện cổ dân gian, nguồn đề tài từ các truyện cổ của Trung Quốc. Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh: “Còn về nhân vật của truyện Nôm, nhìn chung vẫn chưa thoát ra khỏi những khuôn mẫu của nhân vật truyện cổ tích.
Về mặt xây dựng cốt truyện, hình thái cấu trúc của truyện Nôm vẫn là hình thái cấu trúc của thể loại cổ tích, tức là cấu trúc theo mô hình “kết thúc có hậu” như 19 giới khoa học lâu nay đã thừa nhận” [24, tr. 166-167], và việc sử dụng các yếu tố thần kỳ là biện pháp nghệ thuật không thể thiếu được để hướng nhân vật chính của truyện Nôm đi tới kết thúc có hậu. Ta đặc biệt chú ý tới quan niệm của Trần Đình Sử về thể loại truyện thơ Nôm, ông viết: “Theo chúng tôi, thì truyện Nôm là thể loại ra đời trên cái nền nhu cầu “diễn âm”, “diễn ca”, “diễn Nôm tức là truyền thống tự sự rất phổ biến của xã hội trên cơ sở chữ Nôm, và rất có thể tên gọi truyện Nôm có cội nguồn từ chữ Nôm của nó, nghĩa là có chữ Nôm rồi mới có truyện Nôm, và có chữ Nôm rồi mới có tên gọi truyện Nôm” [54, tr. Ông cho rằng “Truyện thơ Nôm là truyện viết ra để đọc, xem hoặc ngâm nga trong thư trai, phòng văn” [54, tr.
88] nhưng đồng thời, ông cũng không phủ nhận khả năng truyện Nôm dùng để kể. Cho rằng cần dựa vào loại hình nội dung thể loại để xác định thể loại, ông nhấn mạnh truyện Nôm có tính chất tổng hợp về mặt thể loại: “Nếu diễn ca lịch sử hướng tới các sự tích có tính sử thi trong đời sống dân tộc thì truyện thơ Nôm là thể loại có nội dung đạo đức, thế sự và đời tư, kể chuyện về tính nết, phẩm chất của các loại người trong xã hội cùng mối quan hệ của các loại người ấy, hoặc số phận, hạnh phúc cá nhân của con người. Đặc điểm của truyện thơ Nôm như một thể loại văn học thể hiện rõ nhất ở chỗ, nó diễn ca truyện cổ tích nhưng không đồng nhất với truyện cổ tích, nó diễn ca tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa nhưng không phải tiểu thuyết chương hồi!” [54, tr. Về lời người kể chuyện và nội tâm nhân vật trong truyện Nôm, ông cho rằng: “Truyện Nôm rõ ràng đã sáng tạo ra lời kể, lời than, lời bình cố định, lời thoại mang nội dung tư tưởng, tâm lý.
Nhân vật được khắc họa như là những chủ thể có đời sống nội tâm nhất quán” [54, tr. Như vậy, bản thân thể loại này có tính chất tổng hợp về mặt thể loại và về phương thức biểu hiện nghệ thuật, truyện thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình. 20 Nếu như tiểu thuyết chương hồi hay văn xuôi Việt Nam thế kỷ XVIII hầu như đều được sáng tác bằng chữ Hán thì các truyện thơ Nôm đều được viết bằng chữ Nôm. Truyện thơ trước hết là truyện nên nó cũng mang yếu tố tự sự, tuy vậy nó được viết bằng thơ nên tính tự sự của nó chịu sự quy định chặt chẽ của thể thơ.
Chính vì thế, nó chỉ có thông tin ở dạng tóm lược chứ không ngồn ngộn chất hiện thực, chi tiết như tiểu thuyết. Vì vậy, các nhà thơ đã phải sử dụng nhiều thủ pháp khác nhau để khắc phục những hạn chế này. Trần Đình Sử nhận xét rất xác đáng rằng: “Việc cắt bớt chi tiết cũng không phải do cá tính của một ai đó, mà là do khuôn khổ cần thiết của thể loại. Một là ngôn từ thơ, văn vần không tiện lợi cho việc trần thuật sự việc một cách chi tiết, nhất là văn Nôm thời đó.
Hai là dung lượng truyện thơ Nôm nói chung là không dài” [54, tr. Do vậy hiện tượng Nguyễn Du đã cắt gọt nhiều chi tiết của Kim Vân Kiều truyện bên cạnh do cảm quan của riêng ông còn là một sự lựa chọn do khả năng tự sự của thể loại truyện thơ quy định. Về phương diện tự sự, tự sự của Truyện Kiều có nền tảng là đặc trưng tự sự trong truyện thơ. Khi vay mượn cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn Du vừa giữ lại mô hình kết cấu cốt truyện cũ, vừa thêm bớt để tạo lập cốt truyện mới phù hợp ý đồ nghệ thuật mới.
Đây cũng là thao tác tự sự phổ biến trong hệ thống thể loại truyện Nôm Việt Nam. Kết quả, Nguyễn Du đã tạo ra một cốt truyện mới phù hợp với mục đích kể chuyện của ông. Trần Đình Sử đã khẳng định: “Có thể nói Nguyễn Du đã khai thác cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân ở phương diện tâm lý, biến nó thành một cốt truyện tâm lý. Cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện có cái thế có thể phơi bày một đời sống nội tâm cực kỳ phong phú của nhân vật chính nhưng Thanh Tâm tài nhân đã bỏ qua, bởi ông chưa xem con người như một hiện tượng tâm lý thực sự” [54, tr.
21 Phan Ngọc cũng cho rằng nguồn gốc của ngôn ngữ tác giả như là một phạm trù mỹ học trong Truyện Kiều lấy từ ngôn ngữ của thể ngâm trong thơ song thất lục bát và thể song thất lục bát chia khổ cũng có ảnh hưởng tới sự chia khổ trong Truyện Kiều. Ông cũng là người đầu tiên nhận định rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du đã tiếp thu kinh nghiệm phân tích nội tâm và trữ tình của song thất lục bát, ngôn ngữ mang tính chủ quan của Truyện Kiều chịu ảnh hưởng của của thể ngâm song thất lục bát và Truyện Kiều chịu ảnh hưởng thành tựu của thơ trữ tình nói chung chứ không riêng gì ngâm khúc. Ngoài ra, Phan Ngọc nhấn mạnh nghệ thuật phân tích tâm lý như một đóng góp nổi bật về thể loại của Truyện Kiều. Ông đã quan sát rất tinh tường rằng Nguyễn Du tàn nhẫn với chi tiết bên ngoài.
Theo ông, để thay thế cho việc tàn nhẫn chi tiết đó, Nguyễn Du đã áp dụng các thao tác: lập hồ sơ cho nhân vật, thao tác đối lập và để con người ngồi một mình. Như trên chúng tôi đã trình bày, rút gọn là một xu hướng căn bản, một sự lựa chọn căn bản của Truyện Kiều với tính cách là một truyện thơ và thao tác lập hồ sơ ở đây thực chất là ngôn ngữ trữ tình của tác giả trước các biến cố và sự kiện liên quan đến số phận nhân vật. Trong nhiều truyện thơ Nôm đồng thời, trước hoặc sau Nguyễn Du, ta đều có thể bắt gặp với mức độ đậm nhạt khác nhau ngôn ngữ tác giả với cảm xúc trữ tình rõ rệt.